Lễ hội chùa Keo làng Hành Thiện

29/3/2014 10:16

LỄ HỘI CHÙA KEO
LÀNG HÀNH THIỆN, HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

Chúng ta đều biết, lễ và hội là một sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lễ và hội có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp xã hội, đã trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân nhiều thế kỷ. Người dân đến với lễ hội sau một thời gian lao động vất vả cũng là dịp để họ hướng tới một cái gì đó như tín ngưỡng tổ tiên, giải quyết những lo âu, những khao khát, những ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được. Bởi vậy mới có câu ca:
 
Dù cho cha đánh mẹ treo,
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.
 
Làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định là một làng văn hóa, văn hiến, làng khoa bảng, làng yêu nước và cách mạng. 
 
Đây là quê nhà sử học nổi tiếng, Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng và quê hương nhà chính trị lừng danh, nhà cách mạng và nhà văn hóa Trường Chinh (Đặng Xuân Khu, Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhà Nước và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng).


Chùa Keo Hành Thiện thờ Lý triều quốc sư – sư Không Lộ, tức là sư Khổng Lồ - Nguyễn Minh Không (Khổng Minh Không) vị thiền sư nổi tiếng này vốn là một người đánh cá của Hành Thiện. Truyền thuyết nói ông có nhiều tài lạ, phi thường. Thiền sư Không Lộ có thể bay trên không, đi dưới nước, bắt rồng phải hàng, hổ phải phục, muôn ngàn kỳ quái không ai biết đâu mà lường. Và đặc biệt ngài đã có công lớn chữa lành bệnh hóa hổ cho vua Lý Thánh Tông… Tất cả chỉ là truyền thuyết, không có một bằng chứng lịch sử nào minh chứng cho những điều này. Thế nhưng câu chuyện dân gian đó vẫn mãi được truyền tụng từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ già tới trẻ đều lắng nghe câu chuyện với thái độ thành kính nhất.

Lễ hội chùa Keo (Thần Quang tự) mở ra ngày 12, 13, 14, 15 tháng 9 âm lịch  hàng năm cũng dựa trên tinh thần đó. Ngày 14 tháng 9 là ngày sinh Thiền sư Không Lộ, lễ hội được tổ chức trọng thể nhất. Trước ngày diễn ra hội công việc chuẩn bị được tiến hành từ đầu tháng, ban đầu là việc chọn lựa chủ hội. Ông được xét chọn từ một trong những người đức đầy, có uy tín trong làng, thạo việc và phải được hội nghị làng thông qua. Ngay trong ngày nhậm chức chủ hội được rước lên theo nghi lễ đơn giản nhưng trang trọng. Ông đội mũ cánh chuồn có hoa văn dát bạc lấp lánh trước mũ, mặc áo thụng màu tía đính đôi tử vuông thêu hoa sen trước ngực, đi hài mũi cong thêu chỉ vàng, ngồi võng do giai chùa khiêng có cờ hội mở, trống giúp cho tới khi mãn hội để tiện điều hành công việc và chay tịnh. Ông cùng ban quản lý di tích lịch sử văn hóa và chính quyền quyết định mọi việc của lễ hội.


Việc làm bánh giầy, loại đặc trưng của lễ hội Hành Thiện, được tiến hành vui như ngày hội: Các phe một mặt cắt cử người xay, giã gạo nếp cái hoa vàng, mặt khác kén trai tơ đóng giả gái, từng tốp 5 đến 7 người lũ lượt đi lấy nước giếng chùa và nước sông Ninh Cơ (Mom Rô đầu làng), gạn lọc nhiều lần cho thật trong, sạch để nấu xôi làm bánh giầy. Mùi thơm xôi nếp lan tỏa, tiếng chày giã bánh thập thịch, tạo niềm vui náo nức khắp xóm làng. Rất tiếc nay không còn ngày hội hóa trang lấy nước làm bánh giầy. Việc làm bánh được chuyên môn hóa với các nguốn nước sạch tại chỗ.

Từ sáng sớm ngày khai hội, chuông khánh lớn và trống cái thay nhau tấu lên từng hồi dài vang động khắp xóm làng. Sau lễ nhập tịch mở cửa chùa, làng làm lễ thỉnh Phật, lễ dâng hương và dựng cờ. Các phe (nay là xóm) hạ thủy thuyền trải và tuyển dân chèo. Hai mươi lăm lá cờ đại được dựng quanh làng làm nổi bật quang cảnh một làng quê vào hội. Cờ đại rộng 9,18m2 (2,7m x 3,4m), kể cả cờ là 10,70m2 trên mép trên để xâu cán, còn ba mép cờ và dải cờ đều riềm đỏ (hoa diêm). Hoa văn và chữ vải trên lễ cờ năm màu thay đổi từ trong ra ngoài.

Các thuyền trải đều đóng theo một mẫu thiết kế thống nhất thuyền hình thoi dài, sơn đen viền sơn. Mặc dù ra đời từ rất sớm dưới con mắt của các chuyên gia thạo nghề sông nước ngày nay chúng vẫn là những con thuyền hoàn hảo về thiết kế chế tạo: đẹp dáng và đạt các chỉ tiêu kỹ thuật.

Thuyền dài 12m chia làm 5 khoang, khoang giữa sâu và rộng nhất (mạn cao 40cm, mặt rộng 120cm, đáy rộng 90cm). Thuyền vuốt nhỏ và nông dần về hai phía mũi và lái. Mũi thuyền bằng mạn, rộng 50cm, dài 55cm kể cả khớp nối 5 cách mạng bịt sắt hoặc đồng. Đuôi thuyền hẹp chỉ có 33cm, hai bờ mạn đuôi thuyền nhỏ cao, lượn tròn gọi là tai tượng (tai voi). Hai bên tai tượng nổi rõ tên (xóm) viết bằng sơn vàng.

Thuyền trải có một mái lái và chín mái chèo bằng gỗ dội nếp dẻo và nhẹ, theo thứ tự từ mũi lái là phách nhất, phách nhì… Mái lái dài 4,5m, các mái chèo dài không đồng đều, mái sáu dài nhất phách, phách nhất 2,8m là mái ngắn nhất.

Quai chèo liên kết các mái với các cọc chèo cắm so le hai bờ mạn thuyền… Qua nhiều năm tháng, hầu hết các trải đến nay đã tu sửa lớn, thu hẹp lòng thuyền vài cách mạng và bào mỏng ván thuyền vài ba mm. Duy nhất trải phe Bắc Tư còn giữ được kích thước và trọng lượng ban đầu của thuyền.
Thời thịnh nhất, những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, Hành Thiện có 21 thuyền trải của 21 phe thuộc ba Giáp.

Do thời gian chiến tranh các trải mất dần, hiện nay làng còn 15 trải chia cho các xóm: từ xóm 1 đến xóm 12 và xóm chùa Ngoài, xóm chùa Trong, xóm Nội Khu mỗi xóm nhận một trải phe.
 

Mỗi trải phải có 10 người, ông lái và 9 chân chèo. Những người thạo nghề sông nước trong xóm được dân làng bình chọn làm người cầm lái, thường ở tuổi trên 30, tứ ngũ tuần đã cầm chèo qua nhiều mùa bơi giải. Ông lái tuyển chọn chân chèo và bố trí đội hình. Đa số chân chèo ở lứa tuổi 20 đến 30 tuổi, rất ít người dưới 20, họ khỏe nhưng không đủ sức dẻo dai trong cả cuộc đua ba, bốn giờ liền; mặt khác mỗi năm chỉ hạ trải một tuần nên cũng phải mất vài năm huấn luyện các chàng trai trẻ mới quen, không bị phồng rộp lòng bàn tay và ổn định vị trí trong đội hình chung. Ngoài sức khỏe là tiêu chuẩn chung, chân chèo phải còn đáp ứng các yêu cầu khác tùy theo chỗ đứng của họ. Anh phách nhất phải thấp dưới 1,6m, người đứng thứ sáu phải cao trên 1,7m, những người khác cao từ 1,6m đến 1,7m tùy theo chỗ đứng của họ. Mỗi người phải thạo việc của mình và phối hợp đều nhịp với đồng đội. Trang phục của đội thuyền rất đơn giản: cả đội thuyền quấn đầu bằng khăn đỏ hoặc khăn vàng (đồng nhất với mỗi đội thuyền); ông lái mặc áo quần dài, thắt lưng bỏ mỗi một bên; chân chèo mặc áo may ô, quần cộc.

Nội dung lễ hội rất phong phú: Phụng nghinh, bơi trải cùng nhiều hoạt động lễ hội, văn hóa, thể thao và vui chơi khác diễn ra đồng thời và dân xen nhau tưng bóng, cuốn hút mọi người trong lễ hội cả ngày và đêm.

Phụng nghinh: Rước kiệu Thánh vào sáng 12 và sáng 15, thường là vài ba vòng quanh đường ngang và quanh hồ trước gác chuông. Có:
 
- Cờ lệnh: mở đầu đoàn Phụng nghinh.
- Cờ ngũ hành 5 lá thêu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ (kim khí, gỗ, nước, lửa, đất). Người xưa cho đó là 5 nhân tố cơ bản của vạn vật trong vũ trụ.
- Âm nhạc: hòa tấu trống cái với các phường ngũ lôi (trống con và nhị, trống cơm, níu, đàn tứ, nguyệt).
- Bát bửu: tấm biển gỗ hình mẫu bút, nghiên, ống giấy,… sơn son thiếp vàng biểu tượng của văn khoa.
- Cờ tứ linh: Bốn lá thêu Long, Ly, Quy, Phượng (Rồng, Lân, Rùa, Phượng Hoàng).
- Hộp đựng triều phục vua ban cho Đức Thánh Tổ: bốn hộp đựng sơn son thiếp vàng đựng: mũ, áo, đai, hài.
- Kiệu sắc: rước chỉ sắc vua ban Đức Thánh Tổ là Quốc sư.
- Quạt ngà: một đôi, nan quạt bằng ngà voi, bọc lụa thêu vàng.
- Kiệu chính: rước bài vị Thánh đội mũ, khoác áo vua ban, đỉnh trầm bình hoa.
- Quạt vả: một đôi hình mai rùa bọc lụa thêu hoa lá, tua vàng kim tuyến che 2 bên kiệu chính.
- Một số bô lão, chức sắc trong làng và một số ông lái đi cuối đoàn.

Mỗi lần Phụng nghinh cần tới 300 người phục vụ gọi chung là phù giá, có trang phục đẹp: Khăn màu sáng quấn đầu, áo nẹp bằng nỉ đỏ thêu rồng vàng nẹp xanh khoác ngoài áo quần trắng, thắt lưng vàng hoặc đỏ, xà cạp đỏ hoặc nâu, giầy vải.

Đoàn Phụng nghinh dài và sinh động từ đầu đến cuối bởi nhiều thể loại tham gia diễu hành, đa dạng về kiểu dáng, phong phú về âm nhạc, rất độc đáo là kiệu bay. Trong hành tiến kiệu luôn nghiêng ngả, lùi, tiến, nhanh chậm thất thường ngoài ý muốn của người khiêng kiệu. Dường như phép màu nhiệm của thần linh ban phước lành cho dân làng đang linh ứng.

Tiếp theo của phần lễ là phần hội: Hội bơi trải đua thuyền trải diễn ra chiều 12 và chiều 15. Hội bơi trải mang ý nghĩa kỷ niệm nghề chài lưới thời niên thiếu của Đức Thánh Tổ tiết mục đặc sắc nhất của lễ hội làng Hành Thiện môn thể thao có một không hai.

Trải bơi đứng (người cầm chèo ở tư thế đứng) trên sông lớn với tốc độ cao hẳn trải bơi ngồi ở các nơi khác. Trước khi vào cuộc đua ông chủ hội đọc bài truyền về kỷ luật và thể lệ cuộc đua, với lời khích lệ các trải đi nhanh về đủ. Không bơi mạn trước mũi thuyền bạn, không cài mái chèn nhau khi cản, vượt nhau, không mượn người ngoài phe (xóm) xuống trải…

Thể lệ đua gồm: Tuyến xuất phát, lệnh xuất phát, đường đua, pháo, về đích, giải thưởng… Tuyến xuất phát là hàng cây nêu để phe buộc trải, cắm ở mép nước theo hàng dọc để cách nhau khoảng hơn tầm thuyền trên đoạn sông con từ chùa tới làng.

Nêu là cây tre xanh còn cả ngọn lá xanh, các xóm bốc thăm để lấy số nêu cho mỗi cuộc đua. Số nêu viết trên bảng treo ở gốc nêu và in ở lá cờ nhỏ cắm ở đuôi trải. Người xem trông cờ biết trải đó tiến hay lùi trong cuộc đua. Ở đó có cắm cây tre cắm ngả ngọn ra sông treo lủng lẳng túm lá hoặc các giải lụa màu. Trải đi ngoài mà không đụng vào túm là là trượt phao sẽ không có giải dù về đích trước. Khi vận hành các chân chèo đứng thành hàng ở tư thế ngả người về phía trước chân sau duỗi, chân trước co gối làm trụ, bổ mái chèo nửa thân trên ngả về phía trước và làm ngược lại khi nâng mái đỏ, đầu vàng nhấp nhô như rồng lượn, các mái chèo chụm vào, xòe ra như cánh chim bay thật đẹp mắt.

Khi về đích bắt giải, trải phải đâm vào gốc nêu treo số thứ tự ngược lúc xuất phát. Xuất phát từ nêu đầu đâm vào nêu cuối và ngược lại… Ban tổ chức đứng trên chòi cao để quan sát toàn tuyến nêu, điểm mỗi tiếng cồng khi có trải đâm nêu. Người ta tranh cướp các lá nêu được giải cao, bất chấp lấm bẩn quần áo hoặc có thể ngã xuống sông. Rượu, bánh, hoa quả dồn dập xuống thuyền. Sau đó, các đội thuyền được giải làng, lên chùa dự lễ và nhận giải thưởng. Lễ trao giải rất trang trọng, mang tính thể thao hơn là màu sắc tôn giáo. Giải làng là bánh giầy nhằm cổ vũ tinh thần nhưng tất cả mọi thành viên trong làng đều hăng hái náo nức đăng ký tham gia bơi trải.

Ngoài lễ Phụng nghinh và hội bơi trải còn có lễ Phục triều y (khoác triều phục trên bài vị Đức Thánh vào sáng 13) do các thầy chùa đảm nhiệm đeo mạng kín mặt chỉ để hở đôi mắt đôi mắt, các vị làm việc nghiêm trang, lặng lẽ và thành kính.

Đêm 13: có hội rước đèn dành cho trẻ em (có tới hàng trăm chiếc đèn), đèn được rước từ đình vào trong chùa, vòng quanh hồ bán nguyệt, trên bờ và dưới nước lung linh một vùng sáng huyền ảo.

Thánh Đản: Lễ sinh nhật Đức Thánh Tổ vào đêm 14 trong tòa Thiên Hương (cung giữa), trước bài vị Thánh là bình hoa, đỉnh trầm, hoa quả tươi, trà sen và nhiều vật phẩm mỹ nghệ nhỏ xinh bằng lời cổ, nhạc đệm giai điệu, chầu văn, phách cầm nhịp và tiếng chuông nhỏ ngắt câu chia đoạn. Trong tòa Giá Roi (cung ngoài) hội các già lần tràng hạt chầu kệ theo tiếng mõ đều đều giữ nhịp Thánh Đản kéo dài hai giờ (khoảng giờ Tý) ở cả hai tòa.

Ngoài phần lễ và hội chính thức còn có: múa rối, bơi trải chèo cạn, lễ tiễn đàn, các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí như cờ tướng, tổ tôm, cầu đu, bắt vịt, múa roi, chọi gà… Cuộc thi thơ và thi ngâm thơ cũng rất sôi nổi và thú vị. Có năm đội múa rồng ở các địa phương khác cũng đến giúp vui. Làng Tả Hành, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, nơi có chùa Keo Thái Bình, còn cử một đoàn hát văn rất đông đảo để làm phong phú lễ hội.

Vì những lý do trên mà hàng năm vào dịp lễ hội Hành Thiện thu hút hàng vạn lượt khách thập phương trong và ngoài nước về tham dự. Đến đây du khách không khỏi ngạc nhiên trước trải  bơi đứng có một không hai. Kiệu bay là một sáng tạo độc đáo, lãng mạn. Cờ biển đa dạng nhiều màu sắc không chỉ đẹp mà còn mang nội dung triết học tôn giáo sâu sắc. Múa rối vui chơi mà chứa ẩn triết lý cuộc đời con người trần tục… Lễ hội chùa Keo Hành Thiện đã trải qua hơn 400 năm với bao thăng trầm nhưng vẫn mãi tồn tại cùng di tích lịch sử văn hóa chùa Keo với truyền thống văn hiến và cách mạng của làng Hành Thiện, không xa rời bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và mỹ tục Hành Thiện. Có một, hai câu ca dao về hội chùa Keo:
 
Dù ai ngang dọc Tây Đông,
Ngày rằm tháng 9 hội Ông nhớ về.
Dù ai bận rộn trăm nghề,
Ngày rằm tháng 9 nhớ về hội Ông.

 
Nằm ở phía Đông Nam của châu thổ sông Hồng, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, nghề chài lưới ngày xưa chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống của cư dân, lễ hội chùa Keo là để tưởng nhớ đến công đức của Đức Thánh Không Lộ Thiền Sư, rước Phụng nghinh và đua thuyền là sự tích hợp của tín ngưỡng cầu nước, cầu mưa với Phật giáo và Đạo giáo của cư dân nông nghiệp. Lễ hội chùa Keo Hành Thiện là lễ hội đặc trưng cho nền văn hóa xứ Sơn Nam Hạ (tức phủ Thiên trường xưa) là một trong những lễ hội đặc sắc và độc đáo nhất cư dân Việt vùng hạ du đồng bằng sông Hồng./.
GS. Đặng Việt Bích

Tin cùng chuyên mục

Họ và tên
Năm Sinh
Di động
Xóm/Đội:
Nơi ở hiện nay
Tỉnh thành:
Chức vụ
Đơn vị công tác
Đăng ký thành công

 

Các nhà tài trợ