Cô giáo người Xuân Trường mười năm bám bản Mông

25/11/2014 10:46

Xã Pà Vầy Sủ nằm cuối huyện Xín Mần, Hà Giang - phần đất tiếp giáp huyện Bắc Hà, Lào Cai và có chung đường biên giới với Trung Quốc. Đây là mảnh đất được biết đến bởi khó khăn, khắc nghiệt… Giữa muôn trùng thiếu thốn, mười năm qua, trên mảnh đất Pà Vầy Sủ ngày ngày vẫn cất lên tiếng hát lạc quan, tha thiết của một cô giáo trẻ. Cô là Mai Thị Tuyết, người Kinh, lên đây dạy các em bé người Mông.


Cô giáo Tuyết trải lòng về những ngày đã ở lại phía sau.
 
 
Gác nỗi buồn riêng

Những người đã vào Pà Vầy Sủ, huyện Xín Mần, Hà Giang hẳn rất khó quên cung đường lãng mạn nhưng đầy nguy hiểm. Đó là cung đường mà theo nhiều cán bộ ở xã, huyện thì do địa chất chưa ổn định nên thi thoảng đá từ đỉnh núi vẫn lăn thẳng xuống. Đã có lúc đá rơi trúng người. May mắn thì bị thương. Nặng hơn thì không qua khỏi.

Nhưng đó chỉ là khó khăn ban đầu. Bởi đường từ trung tâm xã vào các thôn còn khó khăn hơn. Có nhiều nơi còn chưa có đường. Cô giáo và dân bản muốn ra xã không có cách nào khác hơn là men theo nương ngô, bám núi tụt dần xuống. Những ngày nắng ráo, lối đi này còn khả dĩ. Vào hôm mưa xuống, đường trở nên lầy lội, đặt chân xuống là bị bùn hút chặt, không thể nhấc lên đi tiếp. Vì thế, chẳng ai có thể ra ngoài vào ngày mưa. Cô Mai Thị Tuyết, giáo viên Trường mầm non xã Pà Vầy Sủ hiện đứng chân tại Điểm trường mầm non thôn Seo Lữ Thận, bắt đầu câu chuyện bằng con đường chông gai như chính cuộc đời của mình.

Sinh ra ở huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thế rồi chị yêu anh, trong một lần anh về thăm quê. Từ cái nhìn đầu tiên, chị và anh đã nhận thấy cuộc sống không thể thiếu nhau. Rồi chị lập gia đình, theo anh lên xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, Hà Giang cùng làm ruộng kiếm sống. Thấm thoắt được năm năm. Lúc này chị đã có một cô con gái. Những ngày quần quật trên nương, thấy chị đỏ mặt, thở dốc không thể tiếp tục với công việc làm nông đầy vất vả, anh đã tự liên hệ xin cho chị được đi làm giáo viên cắm bản. Tiếp đó, cũng chính anh đã giục vợ làm đơn học văn hóa, nghiệp vụ để có thêm kiến thức sư phạm, chăm sóc trẻ.

Nhưng rồi, trong một ngày mưa gió, anh ra đi, để lại chị với cô con gái nhỏ hơn bảy tuổi. Mất chồng, con gái yếu ốm, ba tháng phải đưa xuống Hà Nội kiểm tra sức khỏe một lần nên số tiền dành dụm của chị nhanh chóng vơi đi. Để có tiền chữa bệnh cho con, không còn cách nào khác, chị nộp hồ sơ xin đi dạy học ở vùng biên giới. Hồ sơ được chấp nhận, chị gửi con cho ông bà nội, lên đường vào Pà Vầy Sủ, cách nhà hơn 150km nhận việc. Lúc này chị vừa tròn 30 tuổi. Với một người không biết đi xe máy, để vào đến trường mầm non Pà Vầy Sủ chị phải đi tất cả ba chặng xe. Nhưng với chị, có lẽ vất vả nhất là khi chống chọi với nỗi nhớ và sự cô đơn.

“Dứt con đi đau lắm. Cháu vừa mồ côi bố, mẹ thì công tác xa, 2 - 3 tháng mới về thăm một lần. Ban ngày, em lên lớp, thấy các cháu học sinh là nhớ con. Cứ khoảng chiều, tầm 5 giờ, khi mây chiều lãng đãng là lại nhớ da diết. Chẳng biết thế nào, em cứ ra gốc cây ngồi khóc. Khóc rồi tự động viên mình phải cố thôi, vì phải làm, phải có lương để còn nuôi con nữa. Lần đầu tiên về thăm nhà, đến khi đi làm lại, con bé cứ khóc quấn vào chân mẹ. Tay ôm chặt cứng, mồm cứ gọi bố ơi, bảo mẹ cho con theo với. Cháu gọi luôn mồm, bố mất rồi còn đâu. Cả nhà nghe con khóc, chỉ biết khóc theo. Lúc em lên xe quay lại trường, cháu chạy bộ theo gần cây số, buộc xe phải dừng để mẹ con chia tay nhau lần nữa.” - Cô giáo Tuyết nhớ lại những ngày đầu làm việc ở điểm trường thôn Khấu Xỉn, nơi 100% người Mông sinh sống.


Niềm vui của các em bé người Mông.
Vượt qua rào cản ngôn ngữ
 
Bấy lâu ở sâu trong núi, lần đầu có cô giáo dưới xuôi lên, đồng bào và bọn trẻ con người Mông rất thích. Vậy nhưng vẫn còn một rào cản rất lớn là ngôn ngữ. Lên lớp, cô nói trò tròn mắt. Trò nói cô không hiểu. Các cháu xin ra ngoài, do không hiểu cô giữ lại. Một lúc sau, cô phải đi dọn nhà, thay quần cho cháu. Vừa thay vừa nhớ đến đứa con gái đang ở nhà, rồi cô lại khóc. Trò xì xào, cô càng rơi nước mắt vì bất lực trước ngôn ngữ.

Không thể duy trì cảnh cô trò không hiểu nhau, sau mỗi ngày dạy học, chị mang sổ đến tìm người già thôn Khấu Xỉn để học. Người già cũng không biết nhiều tiếng phổ thông, nhưng ở chỗ rừng núi, được vậy đã là quý lắm. Được chỉ dẫn, chị viết vào vở những câu dặn học trò bằng hai thứ tiếng như “các cháu đi học đều - nháu kỳ I hỏa tờ cẩn tớ cô giáo kha”, hoặc “rửa mặt trước khi đi học- nháu kì tô cẩn tớ I hỏa dúa mù hú hú”, “đừng khóc nhè, cô giáo yêu- chi khóa cô giáo nhả nhả”… Ngày qua ngày, quyển sổ của chị càng dày thêm, đến mức, như Hiệu trưởng Trường Mầm non Pà Vầy Sủ giới thiệu, bây giờ có khi chị nói tiếng Mông còn giỏi hơn đồng bào rồi. Mỗi lần cô giáo đi vận động đưa học sinh đến lớp, cô nói đồng bào cứ tròn mắt nghe. Nhờ vậy lớp cô lúc nào sĩ số cũng bảo đảm.

Biết tiếng, cô trò đã bắt đầu gần gũi hơn. Ngoài những giờ sinh hoạt, đến trưa, cô giáo Tuyết thường có thói quen mang ghế ra ngồi ở cửa lớp để lắng nghe học sinh nói chuyện với nhau. Cô giáo phân trần: “Trẻ con người Mông rất nhút nhát, ít khi nói chuyện thân mật với người ngoài nhưng khi nói chuyện với bạn, các em sẽ nói hết những chuyện chung quanh, bộc lộ cả suy nghĩ của nó. Mình nghe để nắm bắt tâm tư, tình cảnh gia đình, kịp thời động viên hoặc uốn nắn các cháu”.

Hôm tôi đến vào giờ chơi, gặp cô Tuyết đang ngồi trước điểm trường Seo Lữ Thận. Cô hát, trò đứng chung quanh hát theo. Có những cháu còn đưa tay lên tóc cô giáo. Cô giáo Tuyết rất vui, kể rằng: “Hồi đầu, còn lạ, các cháu cứ đứng xa xa, chưa dám đến gần cô giáo. Bây giờ thì tiến bộ nhiều rồi, đã chải tóc cho cô, mặc dù chải xong là tóc cứ rối bung lên. Em rất cảm động, vì đó là tình cảm của các em dành cho cô giáo, không phải ở đâu cũng được gặp”.

Mình cũng là người hạnh phúc

Mới đó, cô Tuyết đã đi dạy ở Pà Vầy Sủ được 10 năm. Chừng đó thời gian cô đã đi qua các điểm trường Khấu Xỉn, Xì Khà Lá, Seo Lữ Thận và trường chính nữa. Ở đâu cũng vậy, ngoại trừ trường chính gần trung tâm xã và Khấu Xỉn là có điện, còn thì tối đến, cô và bà con vẫn phải thắp đèn dầu, nến để soạn bài, sinh hoạt. Nước uống, sinh hoạt cũng rất thiếu. Mùa khô còn phải mang can đi hơn năm cây số để lấy về. Điểm trường, nhà lưu trú giáo viên cũng còn tạm bợ lắm. Cô kể: “Mùa rét thì vất lắm. Phòng học không kín, lại nhỏ nữa nên cô trò phải đốt lửa ở sân rồi ra đó ngồi. Còn mùa nắng, lẽ ra các em được chạy nhảy, nhưng do điểm trường mẫu giáo nhưng chưa có sân chơi nên rất thiệt thòi”.

Gác lại những câu chuyện ở trường, cô bật mí một chút về niềm vui riêng của mình. Đó là cô con gái của cô giáo Tuyết năm nay học lớp 12 Trường THPT Đồng Yên, Bắc Quang, ngày 28-11 này, sẽ bước vào kỳ thi học sinh giỏi của tỉnh. Cô giáo hy vọng lắm, bởi từ lúc học lớp ba, sau khi thăm trường mẹ, cô bé kể với mọi người về lớp học của mẹ rất giàu hình ảnh: “Lớp học mẹ con phải leo qua ngọn cây cao, xong phải đi xuống gốc cây. Mẹ con dạy ở gốc cây bên kia kìa”.

Mới đó thôi, đến năm lớp 9, cháu đã đạt danh hiệu học sinh giỏi văn của tỉnh. Giờ đây cháu đang đứng trước một cuộc thi mới. Chị nói, “cuộc đời có khi vất vả thật đấy, nhưng khi nghĩ về những đứa con ở bản Mông và cố gắng của con gái ở nhà thì em thấy, hóa ra mình cũng là người hạnh phúc”.
 
Theo Báo Nhân Dân

Tin cùng chuyên mục

Họ và tên
Năm Sinh
Di động
Xóm/Đội:
Nơi ở hiện nay
Tỉnh thành:
Chức vụ
Đơn vị công tác
Đăng ký thành công

 

Các nhà tài trợ