Quê tôi yêu thương

14/2/2014 11:5

Đầu tháng 6/1954, giặc Pháp ném bom Ngọc Liên, gây thêm tội ác trước khi rút chạy khỏi vùng Bùi Chu - Phát Diệm.

Lúc đó, tôi đang làm nhiệm vụ Quyền Trưởng Công an huyện Xuân Trường, được lệnh của cấp trên điều động về tỉnh tham gia vào Đoàn cán bộ quân quản đi giải phóng và tiếp quản thành phố Nam Định.

Thấm thoát đã gần 40 năm (1954-1993), nay tôi mới lại được về thăm quê hương vào dịp tết Quý Dậu (1993). Cùng về dịp Tết này với tôi còn có đồng chí Nguyễn Văn Khiển - Phó Giám đốc Công ty Cầu 7 Cục đường bộ Việt Nam, nguyên giáo viên trường cấp II xã Xuân Hòa. Tôi rất vui mừng được họp mặt với các bạn chiến đấu cũ, cùng đồng chí Ru - Bí thư Đảng uỷ và các đồng chí lãnh đạo của xã. Đồng chí Phạm Quốc Hưng - Bí thư Huyện uỷ, đồng chí Phạm Hồng Chương - Trưởng ban tuyên huấn huyện, đồng chí Nguyễn Thái Học - Phó trưởng Công an huyện cũng về thăm.

Đồng bào, đồng chí - Quê hương
Mừng vui gặp mặt, thân thương ân tình

Ôn cố tri tân - ôn cũ biết mới! Hồi tưởng những sự kiện lịch sử bi tráng, hào hùng của quê hương xưa, để khẳng định và trân trọng những gì mới mẻ quí giá vô ngần mà quê hương nay đã giành được.

Mỗi khi nghe câu hát “Quê hương là chùm khế ngọt”, tôi lại tự nhủ mình và con cháu mình “ăn quả nhớ người trồng cây” để cho đời mãi mãi có thêm cây xanh và hoa thơm quả ngọt.

Ôi cái địa danh “Xuân Hoà” nghe sao mà ân tình đến thế? Xuân là mùa khởi đầu đẹp nhất của đất trời, Hoà là sự hoà hợp của lòng người. Xuân Hoà là sự kết hợp các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hoà của 7 làng hợp lại. Đó là Ngọc Liên, Thanh Khê, Đoài Nam, Xuân Dương, Đoài Hải, Nam Thôn và xóm 20 Kiên Lao. Trước kia các làng này tách biệt nhau giữa làng nọ với làng kia, giữa thôn trong và thôn ngoài, giữa lương và giáo, nay đoàn kết cùng nhau xây dựng thành một xã, đã được tuyên dương là xã anh hùng trong kháng chiến chống Pháp, có nhiều thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, đang thực hiện công cuộc đổi mới đi lên ấm no hạnh phúc.
 


Con sông Cả trước kia nhỏ hẹp là thế, nay đã mở rộng cùng với con đường hai bên bờ trồng bạch đàn, phi lao chạy thẳng tắp từ chợ Kiên Lao đến chợ Ngọc Liên như giải lụa vắt qua các cánh đồng lúa ra tận Đập Tầu, chảy ra sông Sò đổ ra biển.

Các công trình giao thông, thuỷ lợi đã được cải tạo và phát triển. Trước kia đường làng chỉ là những lối mòn gập ghềnh, khi trời mưa bùn lầy nước đọng, ai đi xe đạp phải bỏ xe mà đi bộ về làng. Nay bất cứ nắng mưa, ô tô, xe máy, thuyền bè có thể đến tận các xóm dân cư.

Trước trụ sở Uỷ ban nhân dân xã là ngôi trường học 2 tầng mới xây khang trang. Cạnh phố chợ Ngọc Liên, một chiếc cầu xi măng uốn cong hình cầu vồng bắc qua sông Cả. Đó là trung tâm đầu mối giao thông trải đi giao lưu với các nơi trong xã, trong huyện, trong tỉnh và trong nước.

Một ước mơ bao đời nay đã bước đầu được thực hiện, đó là điện khí hóa nông thôn. Tuy lượng điện còn ít, giá điện còn đắt, nhưng ánh sáng điện đã đến với nhiều gia đình. Vài ba nhà đã có máy xay xát, máy tuốt lúa. Nhiều gia đình đã có radio, cát sét, tivi. Lời ca, tiếng nói, hình ảnh qua các đài phát thanh, truyền hình đã đến với nhiều gia đình mà 5-7 năm trước đây còn là nơi thôn cùng, xóm vắng. Nhà ở đã gạch ngói hoá, có nhà xây mái bằng, 2 tầng, 3 tầng được ốp lát rất khang trang. Nhà bưu điện văn hóa, trạm xá đã được xây dựng. Đời sống vật chất, văn hóa tinh thần đã được cải thiện hơn trước rất nhiều.

Xuân Hoà có làng Ngọc Liên. Ôi! cái tên làng rất đẹp, nghe rất thân thương, tự hào của quê tôi.


Cái làng ấy, hồi thơ ấu tôi được xem lễ hội ở đền thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh và đền Văn Chỉ thờ Khổng Tử. Cứ tháng Ba hàng năm dân làng tổ chức tế lễ và rước kiệu từ 2 ngôi đền này ra đền Đoài ngoại rồi lại rước về. Đám rước có cờ, có trống, có phường bát âm đi đầu, rồi đến kiệu long đình, kiệu bát cống, đồ bát biểu... kéo dài hàng cây số quanh làng.

Cái làng ấy chỉ cách cửa biển Quất Lâm 2km theo đường chim bay, ở trong làng không trông thấy biển, nhưng vẫn nghe biển hát thầm thì. Những khi chớp giật mưa giông thì biển gầm thét như giận dữ. Tôi đã từng theo mẹ ra bờ biển bắt con cáy, con còng, nhìn biển xanh thẳm mênh mông, những cánh buồm dập dờn lướt trên sóng biển nhấp nhô. Những đêm trăng thanh gió mát, ngồi dưới gốc tre làng, nhìn đồng lúa bát ngát, nghe tiếng biển hát hòa với tiếng sáo diều vi vu man mác.

Tại sao cái tên Ngọc Liên quê tôi lại rất gần gũi với tên Kim Liên quê Bác Hồ? Hãy tìm hiểu lịch sử của nó.

Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay. Đắng cay mới có ngọt bùi. Trước ngày 19/8/1945, làng tôi mang tên là làng Ngọc Tỉnh Ngoại. Dưới thời Pháp thuộc, xã Ngọc Tỉnh có Ngọc Tỉnh Nội và Ngọc Tỉnh Ngoại. Hai làng này cách nhau 7 km - ngăn cách bởi xã Kiên Lao ở giữa. Thời ấy thế lực phe cuờng hào Ngọc Tỉnh Nội mạnh hơn, thay nhau chiếm giữ các chức Chánh Tổng, Lý Trưởng, Chánh Hội... Ngọc Tỉnh Ngoại lép vế, chỉ được giữ các chức Phó. Dân số Ngọc Tỉnh Ngoại đông hơn nhưng ruộng đất được chia ít hơn, sưu thuế, phu sai, tạp dịch, Ngọc Tỉnh Ngoại phải gánh chịu nặng hơn.

Đất chật, người đông, bình quân mỗi đầu người chỉ được hơn một sào Băc bộ. Nông nghiệp độc canh, năng suất thấp, mỗi mẫu Bắc bộ chỉ được ba bốn tạ thóc/1 năm. 95% dân số nghèo đói, mù chữ, phải làm thuê, cấy mướn, đi tha phương cầu thực khắp nơi. Cả làng không ai có một chiếc xe đạp, chỉ đi chân đất, mặc vải thô. Vợ chồng mới cưới cũng chỉ nằm ổ rơm, đắp chiếu cói, đâu có giường màn, chăn bông gối nệm như bây giờ. Gia đình tôi đã 7 đời chôn rau cắt rốn, chia sẻ đói nghèo với bà con làng xóm ở đây.

Ông nội tôi - cụ Phạm Duy Hoàn - một nhà Nho nghèo, trọng nhân nghĩa, ghét gian tà, giữ nếp sống “thanh bàn nhi lạc” (nghĩa là nghèo mà trong sạch là vui). Thương cảm dân làng cùng cảnh nghèo đói, cụ tỏ thái độ chống đối sưu cao thuế nặng, phản đối sự áp bức bóc lột của bọn cường hào.Cụ được dân làng rất quí mến, nhưng bọn cường hào thì căm ghét cụ, kiếm cớ thiếu thuế, chúng cho bọn tuần đinh áp đảo đến nhà, trói và đánh cụ rồi cướp đi hết số lúa vừa gặt về. Được dân làng ủng hộ, cụ đã kéo một số người dân đưa đơn kiện lên quan Tri phủ Xuân Trường. Hai năm theo kiện, tiền mất tật mang, cụ đau ốm và chết năm 1938 khi 63 tuổi.

Cha tôi - ông Phạm Cung ý (thường gọi là ông ới). Suốt đời cha tôi chỉ vui thú ruộng vườn và dạy học, thỉnh thoảng còn làm thuốc chữa gẫy xương cho nhiều người. Ngày nay công việc ruộng vườn và dạy học được gọi là sự nghiệp “trồng cây” và “trồng người”. Cha tôi dạy cả chữ nho và chữ quốc ngữ. Mỗi năm học sinh chỉ nộp học phí 10 kg thóc làm thù lao cho thầy. Thời xưa một làng quê nghèo như làng tôi, khi chưa có trường học mà có người đứng ra dạy cho con em người nghèo biết chữ, thật là cao quý biết bao! Tôi là một trong những học trò mà cha tôi đã giáo dục nghiêm khắc”. Tiên học lễ, hậu học văn, dạy 7 điều: “Trung - Hiếu - Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín” là đạo lý làm người. Trong nhiều lần giảng bài cho học trò, cha tôi đã nói những lời tâm huyết: “Dân ta thất học nên chịu dốt nát, bị đè đầu cưỡi cổ mà không làm gì được, phải học để biết yêu nước thương nhà”.

Năm 1944, phát xít Nhật hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương, dân ta phải chịu một cổ hai tròng áp bức bóc lột. Chúng tăng cường sưu cao thuế nặng, phá lúa trồng đay, bắt phu, bắt lính, vơ vét thóc gạo để nuôi đội quân viễn chinh xâm lược. Năm ấy lại gặp thiên tai mất mùa nặng, dẫn đến thảm họa đói năm ất Dậu (1945) - Chỉ trong 3 tháng, mấy tỉnh vựa lúa đồng bằng Bắc bộ đã có hơn 2 triệu người chết đói. Làng Ngọc Tỉnh Ngoại lúc ấy dân số khoảng 2 nghìn người mà đã có khoảng bốn trăm người chết đói. Riêng xóm tôi 34 gia đình đã có 62 người chết đói. Trong đó có 8 hộ chết hết cả gia đình. Có người chết thối rữa ở trong nhà không có ai chôn cất. Có thể nói thảm họa ất Dậu còn thảm khốc rùng rợn hơn nhiều so với thảm họa do 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ sau này gây ra. Nếu có số liệu so sánh thì số người chết bom đạn trong 2 cuộc kháng chiến của xã Xuân Hòa ngày nay chắc chắn ít hơn số người chết đói ất Dậu của làng Ngọc Tỉnh Ngoại năm xưa. Khi không còn kiếm được thứ gì trong nhà để ăn thì người ta tràn ra đồng tìm rau má, tràn lên rừng tìm củ sắn củ mai, tràn ra thành thị để xin ăn, để bới các đống rác. Người chết đói la liệt ở các hè đường, hàng ngày xe vệ sinh nhặt xác chết đem ra ngoại thành đổ xuống những cái hố đã đào sẵn, có người còn thoi thóp cử động cũng bị chôn sống luôn. Một lần tôi đi theo cha ra phố Lạc Quần, nhập bọn với những người đói vây quanh kho thóc của Nhật để chờ xin phát chẩn. Lúc đó chúng gọi là “kho từ thiện cứu đói”, chờ cả buổi sáng dưới trời nắng gắt, chưa ai nhận được hạt thóc nào mà nhiều người đã bị bọn cảnh binh dẹp trật tự đánh túi bụi, gục bên cái kho từ thiện cứu đói ấy. Một con chó tây to như con bê vừa nôn ra một đống thức ăn thì những người đói đã bốc lấy ăn. Thật là khủng khiếp!

Từ Lạc Quần trở về, tôi còn thấy nhiều thảm cảnh nữa diễn ra. Ngay tại chợ Ngọc Tỉnh Ngoại làng tôi (nay là chợ Ngọc Liên) những người đói xúm quanh một người bán bánh đúc và củ chuối luộc, họ bóp cổ nhau để giành giật một miếng củ chuối. Cái đói tàn khốc đến mức người mẹ nỡ vứt bỏ đứa con thơ giữa đường rồi trốn đi, nhưng người mẹ ấy đã gục ngã, đứa con thơ ấy bò lổm ngổm trên xác mẹ, tay nó quờ quạng trên bộ ngực da bọc xương của mẹ nó đã chết cứng để tìm vú mà bú.

Ngày nay khi xem ti vi thấy những cảnh chết đói ở Châu Phi, tôi rất xúc động, nhưng vẫn cảm thấy những hình ảnh ấy chưa bằng nạn đói ở Việt Nam năm ất Dậu. Vả lại nạn đói ở Châu Phi ngày nay còn được thế giới biết đến và cứu trợ. Nạn đói ất Dậu của Việt Nam do thực dân Pháp, phát xít Nhật gây ra, bị chúng giấu kín, có ai biết đến mà cứu trợ. Tiếc rằng ngày nay không có những cuốn phim tư liệu nào ghi được đầy đủ thảm cảnh ấy.

Nạn đói ất Dậu đã cướp mất bà nội tôi và 21 người là anh em, cô bác nội ngoại. Bác ruột tôi là cụ Mậu phải di cư đi Cồn Vành - Nghĩa Hưng. Chú ruột tôi là cụ Hựu phải đi phu Nam bộ, cô ruột tôi là bà Xoan phải đem con đi lang thang xin ăn, chồng Nam, vợ Bắc rồi cũng mất tích.

Trước cảnh nước mất, nhà tan, dân làng lầm than cực khổ, cha tôi rất đau buồn. Số học trò của cha tôi cũng bỏ học hết vì đói. Một số cụ là bạn tâm huyết của cha tôi như ông Vệ, ông Vỹ, ông Đương, ông Hàm, ông Nhân, ông Xước, ông Điệp, ông Củng... thường thăm hỏi nhau. Các cụ còn trao đổi những tin tức đồn đại về nơi này, nơi khác đã nổi dậy phá kho lấy thóc phát cho dân, có cán bộ Việt Minh treo cờ, diễn thuyết. Có lần tôi nghe các cụ đàm đạo về một câu ca dao, gọi là lời “sấm ký” của Trạng Trình: “Gà gáy tháng Tám vua ra/ Việt Nam độc lập vui ca tưng bừng”. Không biết câu ca dao tài tình ấy ở đâu truyền đến mà các cụ dự đoán: “Gà gáy tháng Tám vua ra” tức là tháng Tám năm Dậu sẽ có sự kiện ghê gớm đổi thay đất nước. Đúng vậy! Cách mạng tháng 8 đã đến.

Một hôm cha tôi và ông Vệ đi Kiên Lao về, vẻ mặt cha tôi rất phấn khởi, nghiêm trang - cha nói:

- Nước Nam ta có cứu tinh rồi! Ông Nguyễn ái Quốc - là cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh nổi dậy, đã chiếm được Thái Nguyên, Tuyên Quang và các tỉnh mạn ngược, đang tiến quân về chiếm Hà Nội, Nam Định và các tỉnh miền xuôi - vừa nói, cha tôi vừa đưa cho tôi một tập giấy, trong đó có một tờ truyền đơn của Mặt trận Việt Minh kêu gọi tổng khởi nghĩa, có ghi các khẩu hiệu:

- Việt Nam độc lập - ủng hộ Việt Minh

- Đả đảo Pháp, Nhật - Tiễu trừ Việt gian

Và bài hát “Tiến lên thì sống” có những câu như sau:

“Tuốt gươm, bồng súng - Hỡi dân Việt Nam.
Quân Pháp như lang - Phù tang như sói (1)
Thi nhau áp bức dân nước ta
Tranh cơm, cướp áo, không tha giết người
Tiến lên thì sống?
Hỡi dân làng ơi!”

Cha tôi giao cho tôi ngay đêm ấy phải chép ra nhiều bản các tài liệu nói trên để phổ biến cho nhiều người, chuẩn bị cuộc diễu hành mít tinh. Sáng hôm sau, cha tôi và ông Vệ gặp nhau rất sớm. Sau đó, một cuộc họp kín diễn ra nhanh gọn tại nhà tôi, có khoảng 10 người đến dự. Ngoài những ông bạn đến chơi các lần trước, hôm ấy có thêm một người lạ mặt, sau này tôi mới biết đó là anh Hãnh cán bộ Việt Minh huyện mà cha tôi và ông Vệ đã gặp hôm trước. Anh Hãnh nói vắn tắt tính hình các nơi đang chuẩn bị giành chính quyền, rồi nêu ra mấy việc để cuộc họp bàn và quyết định:

1. Thành lập ngay Đoàn thanh niên cứu quốc gồm những người có tinh thần yêu nước, hăng hái tích cực để làm nòng cốt cho phong trào cach mạng. Cuộc họp bàn và nhất trí cử cha tôi làm Trưởng đoàn thanh niên cứu quốc. Ghi tên được hơn 30 người vào Đoàn.

2. Giao cho Đoàn thanh niên cứu quốc chuẩn bi cuộc diễu hành mít tinh giành chính quyền ở làng Ngọc Tỉnh Ngoại.

3. Lựa chọn những người hăng hái, có văn hóa, đại diện cho các tầng lớp nhân dân để lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời. Uỷ ban này phải thể hiện chính sách đoàn kết của mặt trận Việt Minh, tranh thủ những người tiến bộ trong con em tầng lớp trên để phân hóa bọn cuờng hào, không để chúng chống đối cách mạng. Cha tôi và ông Vệ trình bầy, cuộc họp bổ xung ý kiến và nhất trí cử ra Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Ngọc Tỉnh Ngoại gồm các ông sau đây:

Chủ tịch: ông Bùi Văn Thuyên
Phó Chủ tịch: ông Phạm Huống
ủy viên chính trị: ông Phạm Cung ý
Uỷ viên thư ký: ông Phạm Văn Vệ
Uỷ viên thủ quỹ: ông Hoàng Văn Củng
Uỷ viên liên lạc và tự vệ: ông Nguyễn Hanh

4. Vấn đề cuối cùng là bàn việc tách làng Ngọc Tỉnh Ngoại ra khỏi xã Ngọc Tỉnh và đổi tên xã. Cha tôi đề nghị đổi tên là xã Ngọc Liên, vì chữ Ngọc Liên nghĩa là sen ngọc, rất gần gũi với chữ Kim Liên là sen vàng, quê hương cụ Nguyễn ái Quốc (tức Hồ Chí Minh) là lãnh tụ Mặt trận Việt Minh. Cuộc họp đã hoàn toàn tán thành ý kiến ấy. Thế là từ đó làng tôi mang tên Ngọc Liên.

Một ngày sau cuộc họp này, mọi việc đã chuẩn bị xong. Đúng 20 giờ tối có 3 hồi, 9 tiếng trống từ đình làng Ngọc Liên vang lên, các đoàn viên thanh niên cứu quốc từ các xóm và các làng lân cận, mỗi người một bó đuốc, một cái gậy, kéo theo một số con em 15-16 tuổi, từng tốp, từng tốp kéo về đình làng, hô vang các khẩu hiệu: Việt Nam độc lập - ủng hộ Việt Minh - Đả đảo Pháp, Nhật - Tiễu trừ Việt gian... Cuộc diễu hành từ đình làng qua Bổng Điền, Thanh Khê, Trại Đồng Ré, Đoài Ngoại rồi lại trở về đình làng. Hơn ba trăm người bước đi rầm rộ. Hàng trăm bó đuốc sáng rực đường làng. Lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh, bài hát “Tiến lên thì sống” cùng các khẩu hiệu phát ra từ những cái loa bằng giấy bìa học sinh. Tiếng loa kêu gọi vang vọng làng xóm, thôi thúc mọi người đổ ra đường như nước vỡ bờ, nhập vào đoàn biểu tình. Mấy vị chức sắc trong làng như Phó Lý, Xã Tuần... ngỡ ngàng, lo sợ, cũng ra đường nghe xem tình hình, khômg dám phản ứng gì.

Đoàn người diễu hành tập trung về sân đình, tràn ra xung quanh 2 cây đại thụ bến sông trước sân đình. Hàng chục ngọn đuốc giương cao tỏa sáng. Đồng chí đại diện Mặt trận Việt Minh huyện đứng lên bậc thềm cửa đình trịnh trọng tuyên bố: xóa bỏ chính quyền thuộc địa của thực dân phong kiến, công bố danh sách, chức vụ các vị trong Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời làng Ngọc Tỉnh Ngoại từ nay đổi tên là Ngọc Liên. Tiếng vỗ tay hoan hô vang dậy, chào mừng ngày lịch sử đổi đời này.

Cùng đêm ấy, các nơi khác cũng nổi dậy giành chính quyền. Trước khí thế cách mạng khắp nơi sục sôi như bão táp. Trại lính Lạc Quần, trại lính Hành Thiện, viên Tri phủ Xuân Trường đều đã đầu hàng Việt Minh. Chế độ thuộc địa, phong kiến Việt Nam bị xóa bỏ.

Đêm ấy, mít tinh xong, cha tôi đi họp Uỷ ban nhân dân cách mạng cho đến sáng. Ngày hôm sau, Uỷ ban nhân dân cách mạng bắt đầu làm việc. Cờ đỏ sao vàng uy nghi tung bay trên cột cờ giữa sân đình Ngọc Liên. Theo lệnh của Uỷ ban nhân dân cách mạng, các ông Lý trưởng, Phó lý, Xã tuần, Hộ lại, Chưởng bạ... đã mang giấy tờ, sổ sách, con dấu, bản đồ địa chính... nộp cho Uỷ ban. Đội tự vệ được thành lập thay cho tuần đinh, làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự trị an.

Lúc đó Ngọc Liên chưa có tổ chức Đảng, chưa có Đảng viên. Các đồng chí cán sự Việt Minh huyện coi gia đình tôi là cơ sở, làm nơi đi về, ăn ở và chỉ đạo công tác. Cha tôi, ông Vệ, ông Hanh, ông Củng, ông Rự được coi là cốt cán, chỗ dựa của Việt Minh để thực hiện các chủ trương.

Chỉ khoảng 2 năm, từ 19/8/1945 đến cuối 1947, chính quyền cách mạng Ngọc Liên đã thực hiện được những việc rất quan trọng.

1. Vận động nhân dân tăng gia sản xuất, khắc phục được nạn đói ất Dậu, dọn dẹp nhà cửa, bốc hót chôn cất cho hàng trăm người chết đói.
2. Tổ chức cấp lại công điền. Cha tôi được phân công kiêm Uỷ viên điền địa, thu hồi số ruộng đất do bọn cường hào tham nhũng chiếm đoạt, đem chia cho dân. Trước kia chỉ có nam giới mới được chia mỗi người 1 sào rưỡi thì nay cả nam, nữ đều được chia mỗi người 3 sào. Nhân dân phấn khởi biết ơn cách mạng.
3. Phát động phong trào xóa nạn mù chữ. Ông Nguyễn Đức Uy được cử làm Trưởng ban bình dân học vụ. Vận động người biết chữ dạy người chưa biết. Mở các lớp học ban ngày và ban đêm tại mỗi khu xóm dân cư. Già trẻ nam nữ đều đi học, đã có 50% số người từ 10 đến 40 tuổi thoát nạn mù chữ.
4. Thiết lập trật tự trị an xã hội. Tệ cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút... hầu như không xảy ra.
*  *
*
 
Sau khi giành được chính quyền, cách mạng nước ta phải trải qua biết bao thử thách quyết liệt. Giặc đói, giặc dốt còn đang hoành hành thì 30 vạn quân Tưởng kéo vào. Bọn Việt gian phản động theo gót quân Tưởng kéo về. Quân Pháp gây hấn, lăm le cướp nước ta lần nữa. Bác Hồ và Trung ương Đảng phải đối phó muôn vàn khó khăn để bảo vệ chính quyền mới như ngàn cân treo sợi tóc. Nhân dân ta nhất tề tuân theo mọi mệnh lệnh của Chính phủ Hồ Chí Minh để chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Ngày 6/1/1946, tổng tuyển cử trong cả nước, nhân dân Ngọc Liên lần đầu tiên, cả nam nữ nô nức phấn khởi cầm lá phiếu có tên các vị ứng cử là: Khiêm - Thiều - Trọng - Tuệ - Tín - Anh - Sắc - Đoan - Đức - Trác - Mẫn - Thành - Tứ - Trân... để lựa chọn bầu 15 vị vào Đại biểu Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, sau đó lại bầu ra Hội đồng nhân dân xã để Hội đồng cử ra Uỷ ban nhân dân chính thức của xã. Các vị thành viên Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời vẫn được tái cử giữ chức vụ cũ.

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Trường kỳ kháng chiến, toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến. ủy ban nhân dân cách mạng đổi thành Uỷ ban kháng chiến hành chính. Đội tự vệ đổi thành lực lượng dân quân du kích và phát triển thành các tiểu đội, trung đội, đại đội. Ông Phạm Quốc Thụy (tức Côn) được cử chỉ huy dân quân du kích Ngọc Liên. Tôi cũng gia nhập đội quân du kích đó. Nhân dân thu góp sắt thép để rèn dao, kiếm, mã tấu, búp đa... làm vũ khí cho dân quân du kích.

Các đồng chí cán bộ Việt minh huyện (đầu tiên có đồng chí Hãnh, sau thêm đồng chí Nhự, đồng chí Đẩu) thường về họp kín với cha tôi, ông Vệ, ông Hanh, ông Củng, ông Rự (gọi là “Nhóm T.K” (tức là nhóm Trung Kiên). Đó là những người đối tượng cảm tình Đảng đầu tiên ở Ngọc Liên. Lúc đó phải họp kín vì Đảng ta đã tuyên bố giải tán để rút vào hoạt động bí mật lãnh đạo kháng chiến. Nhiều tài liệu sách báo do các đồng chí cán bộ Việt Minh đưa về cho cha tôi xem, tôi tò mò tìm đọc. Đó là báo “Sự Thật” có những bài nói về chủ nghĩa Mác và Đảng Cộng sản Đông Dương, có tóm tắt lịch sử Đảng, có ảnh đồng chí Tổng Bí thư của Đảng, có bài nói về trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Những tài liệu đó đối với tôi sao mới lạ, hấp dẫn đến thế! Tôi đọc say sưa, ghi chép và vẽ cả ảnh đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh vào cuốn sổ tay của mình.

Cha tôi tuy bận công tác nhưng vẫn chăm chú đọc các tài liệu nói trên. Ngày nào ông cũng đến thăm lớp học bình dân học vụ của tôi dạy và không quên công việc “lạc thú điền viên” chăm sóc những cây chè, cây cam, cây chuối... trong vườn nhà.

Tôi đang phấn khởi say sưa tham gia các công tác bình dân học vụ, phụ trách thiếu nhi, dân quân du kích thì một tai họa ập đến gia đình. Cha tôi bị ốm đột ngột và qua đời vào giữa đêm 29 rạng sáng 30 tết tháng 12 năm Đinh Hợi (1947). Gia đình đau khổ, làng xóm tiếc thương. Lòng tôi như bị cắt ruột xé gan. Dư luận nhiều người cho rằng vì cha tôi đấu tranh kiên quyết chính trực nên bị kẻ xấu hãm hại bằng thuốc độc. Tiếc rằng ngày ấy chưa có cơ quan khoa học hình sự điều tra xác minh kết luận nên vẫn tôn nghi cho đến ngày nay.

Đầu năm 1948, cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Trừ một số tỉnh ở Việt Bắc, khu 4, còn hầu hết các thành phố, thị xã đã bị quân Pháp chiếm đóng.

Tình hình đòi hỏi phải hợp nhất các xã nhỏ thành xã lớn, nhanh chóng phát triển cơ sở Đảng, củng cố chính quyền cấp xã để lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn dân, tạo thế liên hoàn cho chiến tranh du kích.

Theo quyết định của cấp trên, Liên xã Cộng Hoà được thành lập bao gồm Ngọc Liên, Thanh Khê, Hội Khê Ngoại, Đoài Nam (kể cả xóm Đoài Hải thuộc xã Xuân Hy cũ), Xuân Dương, Quần Lung. Các xã nhỏ cũ gọi là thôn. Lúc ấy lớp Đảng viên đầu tiên có các đồng chí: Phạm Khắc Hài, Phạm Gia Mô ở Đoài Nam; Lê Thị Tuất, Đỗ Duy Nhiễu, Đỗ Văn Sen ở Hội Khê Ngoại. Các đồng chí ấy sinh hoạt ở các Chi bộ ghép của Xuân Trường và Hải Hậu được tách ra thành lập Chi bộ xã Cộng Hòa. Đồng chí Phạm Khắc Hài làm Bí thư chi bộ đầu tiên.

Đến tháng 10/1948, Chi bộ Cộng Hòa đã phát triển trên 30 Đảng viên, Ban Chi uỷ được bổ sung đồng chí Đỗ Duy Nhiễu làm Phó bí thư, đồng chí Phạm Gia Mô làm uỷ viên thưòng vụ. Tôi được kết nạp vào Đảng ngày 26/10/1948. Người giới thiệu tôi để kết nạp vào Đảng là đồng chí Phạm Gia Mô và đồng chí Hoàng Văn Củng. Đến tháng 2/1949, tôi được công nhận Đảng viên chính thức và được bổ sung làm Chi uỷ viên phụ trách Tuyên huấn cùng với đồng chí Bùi Ngọc Rự (tức Can). Lúc ấy Đảng còn hoạt động bí mật. Việc giới thiệu cảm tình Đảng, việc kết nạp Đảng cũng phải hoàn toàn bí mật. Các đảng viên thâm nhập vào các tổ chức chính quyền hay các đoàn thể quần chúng để lãnh đạo đều phải qua dân cử hoặc hội nghị các tổ chức ấy bầu ra.

Chi uỷ giao cho tôi mở 2 lớp huấn luyện tại Đoài Nam có trên 60 người dự là đối tượng cảm tình để phát triển Đảng. Chúng tôi còn lập các nhóm nghiên cứu chính trị để bồi dưỡng cho đối tượng cảm tình tìm hiểu về chủ nghĩa Mác - Lê nin nhằm phát triển Đảng. Đến tháng 10/1949, Chi bộ Cộng Hòa đã trở thành Đảng bộ có gần 80 Đảng viên. Mỗi thôn đều có Chi bộ hoăc tổ Đảng, nhiều nhất là Ngọc Liên đã có trên dưới 30 Đảng viên, chiếm gần 40% số đảng viên của xã. Đoài Nam có khoảng 10 đảng viên. Thôn Xuân Dương là vùng công giáo, phát triển Đảng khó khăn hơn, mới có 2 đảng viên (Người đảng viên đầu tiên ở Xuân Dương là đồng chí úy).

Uỷ ban kháng chiến hành chính đầu tiên của xã Cộng Hoà được thành lập. Ông Bùi Viết Toán là Đảng viên ở Ngọc Liên làm Chủ tịch, ông Lê Quốc Tuý ở Hội Khê Ngoại làm Phó chủ tịch. Lực lượng dân quân du kích hợp nhất và lập Ban chỉ huy xã Đội. Ông Lê Đức Hiếu là đảng viên ở Hội Khê Ngoại làm Xã đội trưởng, ông Đỗ Duy Nhiễu là Phó bí thư Đảng uỷ ở Hội Khê Ngoại làm Chính trị viên xã đội, ông Phạm Quốc Thuỵ là Đảng viên ở Ngọc Liên làm Xã đội phó, ông Phạm Minh Liêm ở Ngọc Liên làm Phó Chính trị viên xã đội. Mỗi thôn có Ban chỉ huy thôn đội, chỉ huy các trung đội du kích ở thôn và lựa chọn người đưa lên xã lập đội du kích tập trung của xã, do Xã đội trưc tiếp chỉ huy. Du kích được trang bị súng trường, mìn và lựu đạn. Khi cần thì du kích tập trung bổ sung cho bộ đội địa phương huyện và tỉnh rồi lấy du kích ở thôn bổ sung lên cho xã.

Các ban chuyên môn của Uỷ ban kháng chiến hành chính xã có: Ban thông tin, ông Lê Ngọc Giác là Đảng viên ở Hội Khê Ngoại làm Trưởng ban. Ban bình dân học vụ, ông Nguyễn Đức Uy là Đảng viên ở Ngọc Liên làm Trưởng ban.

Các đoàn thể mặt trận hợp nhất, ông Phạm Khắc Hài - Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Việt Minh. Ông Bùi Ngọc Rự - Đảng viên làm Bí thư thanh niên, ông Phạm Minh Liêm đảng viên làm Phó Bí thư thanh niên. Bà Lê Thị Tuất đảng viên ở Hội Khê làm Bí thư phụ nữ cứu quốc. Bà Việt - Đảng viên ở Ngọc Liên, bà Hài - Đảng viên ở Đoài Nam, bà Tiệm ở Đoài Hải... là ủy viên Ban Chấp hành phụ nữ cứu quốc.

Khi giặc Pháp mở rộng chiếm đóng phía Bắc Nam Định, các cơ quan của tỉnh phải sơ tán về các huyện phía Nam. Lúc đó xã Cộng Hòa được coi là cơ sở an ninh chính trị tốt nên các cơ quan về đóng ở đây khá nhiều. Văn phòng tổ chức của Tỉnh ủy Nam Định sơ tán về Ngọc Liên, đóng tại nhà tôi 6 tháng. Tôi và mẹ tôi đã đào hầm cất giấu tài liệu của Tỉnh ủy. Công binh xưởng sản xuất vũ khí cũng đóng ở Ngọc Liên (xóm ông Đuế, ông Tác). Trại giam của Ty Công an cũng về Ngọc Liên, sau chuyển đóng ở Hội Khê Ngoại đều đươc nhân dân bảo vệ an toàn.

Các phong trào “Hũ gạo kháng chiến”, “Kho thóc nuôi quân”, “Công trái kháng chiến”, nhân dân Ngọc Liên luôn luôn dẫn đầu xã Cộng Hoà hưởng ứng đóng góp vượt mức. Thanh niên thì hăng hái tòng quân, xung phong vào du kích. Phụ nữ thì tích cực tham gia các đội tiếp tế cứu thương. Ban ngày nhân dân ra đồng sản xuất, ban đêm đi đào đường, đắp ụ, rào làng. Một đêm đã phá xong đoạn đường từ cầu xi măng vào Đoài Ngoại qua làng Hội Nam đến cầu Thức Hóa. Các ụ súng, giao thông hào ở Đoài Ngoại, Thanh Khê, Ngọc Liên, Hội Khê ngoại là những ổ tác chiến của du kích Cộng Hòa chống giặc. Không khí toàn dân chuẩn bị chiến tranh rất sôi động.

Tháng 12 năm 1949, giặc Pháp mở chiến dịch hành quân chiếm đóng miền Nam Nam Định và Ninh Bình, lập ra 2 tỉnh công giáo tự trị lấy tên là tỉnh Bùi Chu và tỉnh Phát Diệm.

Lúc đó, lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích của ta mới thành lập, trang bị còn rất thô sơ, phải độc lập tác chiến. Địch tung cả hải, lục, không quân định quét sạch lực lượng ta để bình định xong trong một tuần.

Tàu chiến địch rập rình ở bờ biển. Máy bay nhảy dù quân xuống Phát Diệm. Ca nô, tàu thuỷ đổ quân chiếm một số vị trí ven sông Hồng, sông Đáy, sông Đào, sông Ninh Cơ. Ngày đêm chúng tuần tiễu uy hiếp các triền sông, bắn đại bác, súng cối vào các làng xóm. Bộ binh với xe thiết giáp, xe cóc, có các máy bay thám thính yểm trợ, từ Nam Định theo đường 21, đường 55 tiến quân, hình thành những gọng kìm bao vây, chia cắt, chiếm đóng. Tiến quân đến đâu, chúng vũ trang ngay cho bọn phản động ở đấy nổi dậy lập tề. Mỗi nhà thờ trở thành một đồn địch, một trại giam. Bọn tề nguỵ, lính dõng hoành hành, kích động giáo dân đi càn phá các làng thôn lương, gây hận thù lương giáo.

 Sau khi chiếm đóng Lạc Quần, giặc Pháp cho xe cam nhông chở lính Lê Dương theo đường 57 đi chiếm đóng Thức Hóa và Quất Lâm. Đoàn xe đến đầu cầu xi măng, đường bị cắt, chúng cho quân xuống xe dò dẫm đi bộ. Mấy quả mìn nổ, rồi từng loạt súng trường bắn tỉa từ các ụ súng du kích Đoài Ngoại, Ngọc Liên, Thanh Khê, Hội Khê ngoại và Hội Nam phối hợp. Mấy tên lính Âu Phi ngã gục. Chúng trả đũa bằng những loạt súng cối và trung liên, tiểu liên rồi rút quân trở về Lạc Quần. Bị du kích chặn đánh, địch không dám tiến quân. Ta cầm cự gần một tuần. Địch cho máy bay yểm trợ bắn phá 2 bên đường. Ba xe bọc thép đi đầu nhả đạn súng cối và đại liên vào các ổ tác chiến của ta. Hai xe ủi đất san lấp mặt đường cho xe cam nhông tiến lên. Ta bị thiệt hại. Một số du kích bị thương. Địch làm chủ đường 57 từ cầu xi măng đi Thức Hoá. Bọn phản động ở Trung Thành và Thức Hoá cũng nổi dậy, chúng đã chiếm được Thức Hoá và Quất Lâm.
Thế là xã Công Hòa bị chia cắt, thôn Ngọc Liên và Thanh Khê bị bao vây từ bốn phía. Lính Âu Phi ở Lạc Quần, Thức Hóa theo đường 57 tràn vào. Lính dõng công giáo ở Kiên Lao, Xuân Dương tràn sang. Du kích Ngọc Liên, Thanh Khê chỉ có hai khẩu súng trường hết đạn. Mất liên lạc với xã, với huyện. Hũ gạo kháng chiến, kho thóc nuôi quân chôn cất dưới hầm đã bị nước mưa ngập vào mục nát hết. Một số cán bộ, nhân dân và du kích hoang mang, lo sợ đã tuỳ ý di tản. Trước tính thế đó, cuộc chiến đấu cầm cự đã hơn một tháng, không thể kéo dài được nữa. Chúng tôi tập hợp nhau hội ý cấp tốc (gồm có tôi, đồng chí Thụy - xã đội phó, đồng chí Tác - thôn đội trưởng, đồng chí Tham - chính trị viên thôn đội, đồng chí Mạch và đồng chí Thiếp chỉ huy du kích) đã nhất trí quyết định: tạm thời cất giấu vũ khí, cho anh em phân tán nhỏ, tránh các mũi càn quét, truy lùng của địch để bảo toàn lực lượng, chờ chỉ đạo của cấp trên.

Tổ chiến đấu của chúng tôi rút khỏi Ngọc Liên qua cánh đồng Thanh Khê duới làn đạn của địch. Vừa lội sông Cả sang thôn Quần Lung lại bị 2 cánh lính dõng ở Xuân Dương và Nam Điền càn tới. Chúng tôi phải vượt sông Sò sang Hoành Nha Giao Thuỷ. Lúc này điểm lại có tôi, đồng chí Tác, đồng chí Tham, đồng chí Mạch, đồng chí Thiếp. Tối hôm ấy, bọn lính dõng ở Sa Châu và Ngưỡng Nhân kéo theo giáo dân, kẻ súng, người gậy, đánh trống mõ, đốt đuốc, hò hét tràn vào Hoành Nha lùng bắt Việt Minh, Cộng sản. Chúng tôi bật ra cánh đồng Hoành Nhị, dìm mình xuống ruộng nước, bị đỉa bám đầy người. Đồng chí Thiếp lạc đường, bị địch bắt đem về bốt Ngô đồng. Còn 4 chúng tôi thoát nạn, đêm ấy lại trở về Ngọc Liên tìm cách bắt liên lạc với đồng chí Hài, đồng chí Nhiễu. Được tin 2 đồng chí ấy đã sang Thái Bình, nhắn chúng tôi phải sang bên ấy họp để nhận chủ trương của Huyện uỷ đã sơ tán sang đấy.

Lúc này, đồng chí Mạch bị ốm phải ở lại, còn 3 chúng tôi (Liêm, Tham, Tác) đã vượt đường 57 sang Hải Hậu, qua sông Ninh Cơ, sang Trực Ninh, đến làng Dịch Diệp thì tìm được đò qua sông Hồng sang Thái Bình. Theo địa chỉ liên lạc, chúng tôi đến chùa Tiểu Hoàng, huyện Tiền Hài thì gặp đồng chí Hài, đồng chí Nhiễu ở đấy. Lúc đó đồng chí Hài đã được điều động làm Huyện uỷ viên. Đồng chí Nhiễu thay đồng chí Hài làm Bí thư Đảng uỷ xã Cộng Hòa.

Đồng chí Hài, đồng chí Nhiễu phổ biến nghị quyết của tỉnh và huyện uỷ. Chủ trương bám đất, bám dân, phát động du kích chiến tranh trong lòng địch, giành lại chính quyền. Tôi được giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng du kích bí mật.

Chúng tôi ra đò Cồn Nhất. Đêm đông rét buốt, sương mù. Một con đò nhỏ đưa chúng tôi cùng mấy người hồi cư vượt qua sông Hồng sang đất Giao Thuỷ. Bước vào vùng địch chiếm đóng, xóm làng, trời đất tối đen như mực. Thỉnh thoảng một vài chiếc pháo sáng địch bắn lên bầu trời soi rõ những xóm làng, đồng ruộng lặng lẽ. Mấy tiếng súng cầm canh xen lẫn với những tiếng đại bác của địch. Qua làng Hoành Nhị, Hoành Nha, vượt con sông Sò qua Nam Điền về đến thôn Quần Lung thì trời sáng. Ôi! Các làng xóm quê hương ngày nào được Cách mạng tháng Tám đổi đời chưa được 4 năm, nay đã bị giày xéo dưới gót giày, mũi súng của bọn lính Lê Dương và lính Dõng. Địch đã thiết lập bộ máy ngụy quyền theo địa danh xã cũ thời Pháp thuộc. Mỗi xã có Xã uỷ tề do một Xã trưởng đứng đầu cai trị. Địch còn tổ chức mạng lưới gián điệp, chỉ điểm cho chúng đánh phá Cộng sản, lùng bắt cán bộ, kìm kẹp nhân dân.

Chúng tôi bí mật vào nhà đồng chí Tuy, một Đảng viên ở thôn Quần Lung để nắm bắt tình hình. Được biết hầu hết cán bộ giữ các chức vụ công khai đều bị địch bắt đưa về các đồn bốt Kiên Lao, Xuân Dương, Thức Hóa, Trung Thành đánh đập, tra khảo bắt khai báo, làm cam đoan rồi giao cho Xã uỷ tề quản chế chặt chẽ. Trong số đó có đồng chí Phạm Văn Vệ ở Ngọc Liên bị địch tra tấn gãy tay, mình đầy thương tích, được Lý Thơ phó Xã uỷ tề bảo lãnh tha về nhưng phải bị quản chế.

Chúng tôi phân công đồng chí Tham, đồng chí Tác về bắt liên lạc với các đồng chí ở Ngọc Liên. Tôi ở lại Quần Lung để bắt liên lạc với các thôn khác. Đồng chí Tuy bố trí cho tôi ở bí mật trong chùa Bà, thôn Quần Lung, vợ đồng chí Tuy và bà Khôi hàng ngày vào lễ chùa đưa cơm cho tôi. Hai ngày sau tôi chuyển đến ở ngôi mộ xây giữa cánh đồng Thanh Khê (rất tiếc nay ngôi mộ ấy không còn nữa). Đồng chí Hóa và đồng chí Tham đã họp với tôi vào ban đêm ở ngôi mộ này. Lúc đó đồng chí Hóa vẫn bám trụ ở Thanh Khê. Anh em gặp nhau vừa mừng, vừa thương, xúc động đến phát khóc.

Đồng chí Hoá, đồng chí Tham trao đổi tình hình Thanh Khê và Ngọc Liên, tôi truyền đạt tinh thần nghị quyết của Tỉnh, của Huyện và ý kiến đồng chí Nhiễu bí thư. Sau đó, chúng tôi phân công nhau tiến hành mấy việc:

1. Rà soát lại đội ngũ đảng viên. Lúc đó, Ngọc Liên và Thanh Khê có khoảng 20 đồng chí vẫn hăng hái, tích cực, được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở bí mật, đào hầm, nuôi cán bộ, nắm bắt tình hình, phát hiện bọn chỉ điểm. Số đồng chí cầu an không dám hoạt động thì giao nhiệm vụ phải giữ bí mật cho Đảng, khi cần thiết Đảng sẽ liên lạc và yêu cầu ủng hộ vật chất cho cán bộ hoạt động bí mật. Số Đảng viên có biểu hiện nghi vấn đầu hàng thì tạm đình chỉ liên lạc để thử thách xác minh.

2. Giao cho đồng chí Liêm thay mặt Đảng uỷ tổ chức lễ kết nạp đồng chí Vậng (tức Đàn) và đồng chí Ân là 2 đồng chí cảm tình Đảng ở Ngọc Liên đã được Đảng uỷ duyệt, Huyện uỷ phê chuẩn. Qua chiến đấu, 2 đồng chí này thể hiện trung thành và tích cực.

3. Xây dựng các tổ chức du kích bí mật ở Ngọc Liên và Thanh Khê, chuẩn bị hoạt động vũ trang khi cần thiết.

4. Thuyết phục tề, nắm tề để phá tề. Tôi và đồng chí Tham gặp xã trưởng Ngọc Liên, đồng chí Hoá gặp xã trưởng Thanh Khê nói rõ cho họ biết: Chính phủ kháng chiến sẽ khoan hồng cho họ nếu họ không làm hại kháng chiến, sẽ ghi công nếu họ lập công, sẽ trừng trị nghiêm khắc nếu họ làm tay sai cho địch chống phá kháng chiến. Hai ông này đều thanh minh vì hoàn cảnh bắt buộc phải làm tề, xin hứa sẽ phục tùng sự chỉ đạo của chính quyền kháng chiến.

Chúng tôi tập trung thực hiện ở Ngọc Liên và Thanh Khê rồi tiến hành sang Quần Lung và Đoài Nam. Còn Xuân Dương nơi công giáo có bốt địch, Hội Kh ê Ngoại bị địch chia cắt, liên lạc khó khăn nên chờ đồng chí Nhiễu bí thư về sẽ bàn kế hoạch giải quyết.

Tôi viết báo cáo toàn bộ tình hình địch, ta và những công tác đã làm như trên gửi qua đường giao liên bí mật sang Thái Bình cho đồng chí Nhiễu để báo cáo cấp trên. Lúc đó trạm giao liên bí mật của huyện đặt tại xóm 20 Kiên Lao cũ (nay là xóm 1 Xuân Hòa). Xóm này là nơi giáp ranh giữa Xuân Kiên và Xuân Hòa, dân cư giáo lương ở xen kẽ, nhân dân có truyền thống đoàn kết, tin theo cách mạng nên được chọn làm trạm giao liên và sau đó trở thành căn cứ của đội Công an xung phong của huyện Xuân Trường.

Công việc xây dựng cơ sở bí mật đang tiến triển thì chúng tôi bị địch bắt. Vào một ngày cuối tháng 2 năm 1950, bọn lính Dõng Kiên Lao bất ngờ ập đến Ngọc Liên bắt tôi, đồng chí Tham, đồng chí Tác, đồng chí Thụy, đồng chí Mạch đưa giam tại bốt nhà thờ Kiên Lao. Vài ngày sau chúng bắt tiếp một số nữa, có cả anh em ngoài Đảng rồi tung tin là do chúng tôi khai báo. Đó là một thủ đoạn đánh lừa để li gián rất thâm độc của địch.

Kẻ nào chỉ điểm cho địch bắt chúng tôi? Bọn phản động Tề ngụy hay do có tên phản bội trong nội bộ ta? Phải tìm cho ra kẻ giấu mặt đó.

Hơn mười ngày liền, bọn công an ngụy liên tục thẩm vấn chúng tôi cả ngày và đêm. Chúng treo ngược tôi lên sàn nhà, đánh bằng báng súng, dùi cui, lựu đạn chày. Chúng đặt tôi dang tay chân lên tấm ván gỗ, dây thừng luồn qua mồm, tách hai hàm răng không cắn được vào nhau, cột chặt đầu vào tấm ván gỗ, tay và chân cũng bị trói theo kiểu bó giò cột vào các thanh gỗ, mặt ngửa lên trời, toàn thân không cựa quậy được. Một bình nước lã từ trên cao liên tục dội xuống mặt và mồm, nước sặc qua mũi, qua mồm, qua phổi, vào bụng: Tôi bị ngạt thở như người chết đuối dưới nước. Kiểu tra tấn này tuy tàn ác nhưng lại làm tôi dễ chịu hơn. Bởi vì chỉ sau mấy phút tôi đã ngất xỉu, không còn biết đau đớn, không phải nghe và trả lời những câu thẩm vấn của chúng nữa.

Địch chẳng moi được gì làm chứng cớ buộc tội chúng tôi. Số người bị bắt đưa về Kiên Lao ngày một đông, không có chỗ giam nên sau một tháng chúng phải thả gần hết số người ở Ngọc Liên. Chỉ còn 6 người chúng cho là quan trọng nên bị giải lên nhà giam của Ty công an Ngụy ở Lục Thủy. Đó là tôi, đồng chí Tham, đồng chí Mạch, đồng chí Tác, đồng chí Vịnh, và đồng chí Oa.

Tại nhà giam Lục Thuỷ, số người bị bắt đông đến hàng nghìn, bọn thẩm vấn xét hỏi không xuể. Xem hồ sơ thấy chúng tôi “chỉ là mấy tên du kích quèn ốm yếu, khi quân Pháp đánh thì bỏ chạy” nên chúng chỉ hỏi cung qua loa vài lần rồi chuyển chúng tôi xuống Bùi Chu.

Lúc này, giặc Pháp đã lập cơ quan chỉ huy phân khu miền Nam tỉnh Nam Định đóng trụ sở tại Hành Thiện (gọi là SouSerteur). Một tiểu đoàn lính Âu Phi ở đây. Còn thị trấn Bùi Chu đang được khẩn trương xây dựng thành thị xã. Toà tỉnh Trưởng và các cơ quan hành chính của ngụy quyền đều đóng ở Bùi Chu.
Ông Già Cử, một tu sĩ có thế lực bao thầu việc xây cất thị xã, tiếp nhận hàng trăm tù nhân, trong đó có chúng tôi làm lao động khổ sai cho ông ta. Ngày đi đào sông, đắp đường, san đất, làm nhà, khuân vác... tối về chúng tôi lại bị giam tại nhà Kèn cạnh nhà thờ Bùi Chu.

Được ra lao động, chúng tôi có điều kiện dễ dàng nhận tiếp tế tiền bạc, áo quần, thuốc men của gia đình nên dần dần khôi phục sức khoẻ. Qua tiếp xúc với một số tù nhân là đảng viên như đồng chí Tuyến ở Ninh Cường, đồng chí Tâm ở Hải Hậu, chúng tôi được biết trong trại giam Lục Thuỷ có Chi bộ nhà tù do đồng chí Khâm - tỉnh uỷ viên và đồng chí Bùi Đình Ky - cán bộ công an (bị địch bắt) lãnh đạo. Chúng tôi lập một tổ Đảng của Ngọc Liên ở nhà Kèn Bùi Chu để sinh hoạt.
Qua kiểm điểm rút kinh nghiệm, phân tích các lần bị hỏi cung từ Kiên Lao đến Lục Thuỷ, chúng tôi khẳng định việc chúng tôi bị địch bắt là do bọn phản động địa phương chỉ điểm, không phải là do nội bộ có kẻ phản bội. Điều đó làm chúng tôi vững tin hơn vào Đảng bộ, vào phong trào của xã Cộng Hoà sẽ tồn tại và phát triển.

Sau khi chúng tôi bị địch bắt, đồng chí Nhiễu ở Thái Bình đã trở về Cộng Hoà cùng đồng chí Trần Văn Cừu (tức Hoá) lãnh đạo phong trào, phát triển cơ sở đều khắp các thôn. Xuân Dương là nơi yếu nhất, cũng đã có vài cơ sở bí mật.

Tỉnh uỷ, Huyện uỷ tăng cường chỉ đạo các đợt diệt ác trừ gian, phát triển chiến tranh du kích. Xuân Trường được chia làm bốn miền. Mỗi miền 4-5 xã có một đồng chí Huyện uỷ viên phụ trách, có một tổ Công an đặc phái, phối hợp với lực lượng của Huyện đội, lựa chọn du kích bí mật ở các xã lập ra các đội Công an xung phong có vũ trang, luồn sâu vào vùng địch để diệt ác,trừ gian, mở đường cho công tác xây dựng cơ sở chính trị. Cộng Hoà là xã đi đầu diệt ác, trừ gian. 2 tên chỉ điểm lộ mặt gian ác đã bị xử tử hình. Các tên khác có biểu hiện lén lút làm tay sai cho địch, bị đội Công an xung phong đến nhà răn đe hoặc cảnh cáo. Một đối tượng chỉ điểm ở Ngọc Liên trốn lên Thượng Phúc gần Hành Thiện bị Công an xung phong truy quét đưa đi cải tạo, một Phó xã uỷ tề Ngọc Liên khi công an xung phong đến nhà cảnh cáo đã chạy trốn. Vì đêm tối, chẳng may đồng chí Phạm Văn Vệ đang bị quản chế tại nhà Phó xã ủy, bị Công an xung phong đâm nhầm vào bụng. Một sự nhầm lẫn đau xót. Đồng chí Vệ là một Đảng viên, tham gia hoạt động từ ngày đầu khởi nghĩa tháng Tám vừa bị địch tra tấn gần chết nay lại bị Công an đâm nhầm nên càng thêm kiệt sức, ít lâu sau đó đồng chí Vệ đã chết.

ở các nơi khác nhiều tên chỉ điểm gian ác, ngoan cố ẩn náu trong các bốt địch vẫn bị Công an xung phong đột kích tiêu diệt ngay tại sào huyệt như: Đội Tảo bị diệt gần bốt Phú Nhai. Đội Lạp bị tiêu diệt ngay gần bốt An Cư. Binh Liêm, Xã Bội bị diệt gần bốt Hành Thiện, Phạm Bá Cưu bị diệt ở cạnh bốt Hạc Châu. Đinh Công Nhượng là Cảnh binh bị bắt sống trên đê ức gần bốt Phú Nhai và Trung Linh. Đặc biệt là vụ Đinh Viết Điện - Quận trưởng Công an ngụy có 3 lính theo bảo vệ,vẫn bị diệt ngay giữa ban ngày trên đường 57, khi y từ bốt Thức Hoá đi ra qua đò đến gần địa phận thôn Thanh Khê xã Cộng Hoà thì bị tổ Công an xung phong do đồng chí Trần Văn Chấn - cán bộ Đặc phái Công an Xuân Tlường chỉ huy hành động.

Trong số Công an xung phong nổi tiếng Xuân Trường ngày ấy, có 3 người ở xã Cộng Hòa. Đó là liệt sĩ TrầnVăn Đậu thôn Quần Lung, liệt sĩ Phạm Viết Bính và đồng chí Nguyễn Xuân Sinh cùng ở xóm 1 Xuân Hoà (Đồng chí Sinh sau này vào chiến đấu ở miền Nam, bị thương cụt một tay, trở về làm Trưởng công an huyện Xuân Trường, nay đã nghỉ hưu).

Những hoạt động diệt ác trừ gian rất táo bạo, kiên quyết của ta, trấn áp mạnh mẽ bọn tề nguỵ, chỉ điểm làm chúng hoang mang dao động.

Những tên ngoan cố thì chạy vào đồn, bốt. Đa số cầu xin gặp cán bộ ta tự thú tội lỗi, xin nhận nhiệm vụ do chính quyền kháng chiến giao cho. Có người làm việc cho địch xin nhận nuôi giấu cán bộ. Hệ thống nguỵ quyền nhiều làng xã từ đó bị tê liệt. Nhiều cuộc vây ráp, càn quét, bắt bớ của địch bị ngăn chặn và bị du kích ta đánh trả, chúng phải co lại. Những tin tức thắng lợi trên đây làm cho anh em chúng tôi trong tù rất vui mừng, phấn khởi. Chúng tôi họp tổ Đảng quyết định phải tạo thời cơ trốn thoát ngục tù trở về hoạt động.

Do đấu tranh có lý, có tình, chúng tôi đã thuyết phục được Cai tù đề nghị Già Cử nới lỏng việc canh giữ, và một số anh em tỏ vẻ đã “cải tạo tốt” được Già Cử cho nghỉ phép nhân dịp Noel. Nhưng phải để một số người ở lại làm con tin, khi số nghỉ trước có mặt thì người ở lại mới được nghỉ sau. Chúng tôi mừng thầm nghĩ bụng “chúng nó chắc lép, sợ mình trốn nên muốn nắm đằng chuôi đấy. Thế là trúng kế ta rồi”.

Theo đúng kế hoạch, các đồng chí được về trước, còn tôi ở lại về sau. Thế là chúng tôi đã cùng trốn thoát luôn đúng vào ngày Thiên Chúa Giáng Sinh (25/12/1950). Đêm ấy tôi về Ngọc Liên nhưng không về thăm nhà. Mẹ tôi đã đón tôi ở nhà bác Hoàng Viết Tiêm do đồng chí Hoàng Văn Củng và Bùi Ngọc Rự đã bố trí trước. Hôm sau, đồng chí Nhiễu đến thăm tôi và thông báo cho biết, tôi được Huyện uỷ điều động lên công tác tại Đặc phái Công an Xuân Trường.

Tôi chưa kịp chuẩn bị lên đường thì lập tức đã có quân lính địch về truy nã. Chúng đến nhà bắt mẹ tôi để tra hỏi. Để thử thách mẹ tôi, chúng bịa đặt rằng tôi bị bắn chết,bị chặt đầu treo ở cầu Yên Định. Mẹ tôi kêu khóc thảm thiết chạy đi Yên Định tìm con. Có lẽ thái độ ấy của mẹ tôi làm chúng phán đoán nhầm là tôi chưa kịp về gặp mẹ, không truy hỏi mẹ tôi nữa. Hơn một tuần, ngày đêm quân lính về phục kích, dò la, truy lùng. Tôi vẫn được an toàn trong hầm bí mật tại nhà mẹ Rong. Ông Phú con mẹ Rong hóa trang hầm bí mật cho tôi. Hết đợt truy lùng của địch, tôi theo đường giao liên mật lên huyện nhận công tác mới. Đó là một ngày tháng Giêng năm 1951.

Đã 42 năm nay, cứ đến Noel tôi lại bồi hồi xúc động nhớ lại sự kiện trốn tù ngày ấy.

Năm 1951-1952 là thời điểm cao trào nhất của cuộc chiến tranh du kích vùng địch hậu Xuân Trường.

Mùa xuân Tân Mão năm 195 l, toàn huyện đồng khởi lần thứ nhất. Trừ những nơi có đồn địch khống chế còn hầu hết các làng xã đều nổi dậy phá tề, rào làng, đào hào giao thông, đắp ụ súng, lập trạm gác đánh trả các cuộc càn quét của địch. Chính quyền kháng chiến đã hoạt động công khai tuyên bố xoá bỏ chính quyền nguỵ.

Cộng Hoà là một xã có phong trào du kích chiến tranh mạnh của huyện. Lúc đó đồng chí Nhiễu - Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Hoá - Phó bí thư, đồng chí Tham - Chủ tịch, là những người trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến đấu này. Trừ thôn Xuân Dương, các thôn khác có ban tề đều bị giải tán, đã nộp con dấu của Xã uỷ tề cho Uỷ ban kháng chiến. Trần Quang Mật - Chánh bảo an ngụy ở Ngọc Liên chạy trốn vào vùng địch.

Phong trào du kích chiến tranh lên cao, nhưng thế và lực chưa áp đảo được lực lượng địch với hệ thống đồn bốt dày đặc. Chỉ vài ngày sau, hầu hết các nơi rào làng kháng chiến đã bị địch phá tan. Bọn tề nguỵ, ác ôn theo quân địch trở về chỉ dẫn cho chúng phá hầm bí mật, bắt cán bộ, du kích, đốt nhà, cướp của. Cuộc đồng khởi này bị địch dập tắt nhanh chóng. Chỉ có hai nơi chiến đấu kéo dài được 3 ngày là thôn Ngọc Liên xã Cộng Hoà và thôn An Cư - xã Xuân An. Cả 2 nơi đều bị thiệt hại nặng nhất. Hàng trăm nóc nhà Ngọc Liên bị địch đốt. Hàng chục thanh niên và du kích Ngọc Liên bị địch bắn chết. Ba đồng chí: Bùi Viết Oa - đội trưởng du kích Ngọc Liên, đồng chí Cư, đồng chí Canh xóm Đoài ngoại đều bị bắt ở dưới hầm. Đồng chí Tưởng xã đội trưởng và một đồng chí chỉ huy bộ đội địa phương bị địch phục kích bắn chết ở Hội Khê Nam. Nhiều cán bộ, đảng viên bị địch bắt, trong đó có đồng chí Tham - Chủ tịch, đồng chí Thiếp - Trưởng Công an xã.

Gia đình tôi cũng bị giặc đốt. Em tôi là Phạm Đức Nhậm tham gia du kích cũng bị địch bắt. Làng xóm Ngọc Liên một lần nữa tan hoang như một đống tro than khổng lồ, đỏ rực lửa khói, khét mùi bom đạn.

Trại tạm giam của Huyện ở An Cư, giam giữ các tên bị ta bắt, do 2 đồng chí Dương Thanh Đạt và Trần Văn Chấn là Đặc phái viên công an phụ trách. Lực lượng canh giữ chỉ có một tiểu đội du kích do đồng chí Trần Văn Đậu là công an xung phong (quê Quần Lung) chỉ huy, bị một đại đội địch bao vây tấn công ác liệt, đồng chí Đậu đã hi sinh. Các đối tượng bị giam giữ ở đây, ta chỉ tiêu diệt một tên nguy hiểm nhất, còn lại, ta cảnh cáo, bắt làm cam đoan rồi tha cho chúng chạy thoát hết.

Cuộc đồng khởi lần này tuy thất bại nhưng là dịp cho ta tập dượt rút được nhiều kinh nghiệm. Phong trào tạm lắng xuống, cán bộ đảng viên rút vào hoạt động bí mật để khôi phục phong trào. Đây là thời kì đen tối nhất của Ngọc Liên nói riêng và Cộng Hoà nói chung. Tuy vậy vẫn còn vài ba chục gia đình cơ sở cốt cán vẫn bí mật nuôi giấu, che chở cho cán bộ hoạt động. Ban ngày địch ở đồn bốt nống ra càn quét thì cán bộ rút xuống hầm hoặc luồn ra phía sau các mũi càn của địch. Ban đêm địch rút về đồn thì ta lại làm chủ. Bọn tề nguỵ chỉ điểm chớm mọc lên đã bị chặn. Địch không thể lập lại hệ thống nguỵ quyền như trước được nữa. Sau chiến dịch Thu - Đông năm 1951, một bộ phận quân chủ lực ta đã luồn vào vùng địch để hoạt động hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh. Tương quan lực lượng đã thay đổi. Cuộc kháng chiến toàn quốc chuẩn bị chuyển sang giai đoạn phản công. Quân viễn chinh Pháp phải căng ra trên nhiều chiến trường không đủ lực lượng để tăng viện, để đối phó với phong trào du kích ngày một lớn mạnh. 

Thời cơ thuận lợi đã đến, mùa xuân năm 1952, cả 6 huyện miền Nam mở khu du kích. Lòng căm thù bị dồn nén lại bung ra. Nhờ có kinh nghiệm tập dượt lần trước, các đơn vị bộ đội, công an được tổ chức chặt chẽ hơn, có đơn vị chủ lực phối hợp tập trung mũi nhọn tấn công áp đảo vào những cơ quan đầu não của địch. Lực lượng du kích và công an xã đồng loạt uy hiếp các đồn bốt lính dõng, phục kích chặn các đường giao thông.

Trong một đêm, các đồn Bùi Chu, Trung Linh, Lục Thuỷ, Hành Thiện, Phú Nhai đều bị tấn công. Trại giam của ngụy ở Lục Thuỷ bị tấn công, giải phóng hơn 200 tù chính trị. Cơ quan phòng nhì núp dưới danh nghĩa trường Chủng viện Trung Linh bị bộ đội,du kích đột nhập. Hai sĩ quan Pháp khoác áo linh mục bị bắt. Một bộ phận tình báo của Serteur Hành Thiện núp dưới danh nghĩa Ty công chính bị Công an đột kích cướp tài liệu Trước thế tấn công áp đảo uy hiếp của ta, hầu hết các đồn bốt lính dõng ở các nhà thờ như Kiên Lao, Xuân Dương... và hàng loạt nơi khác đều rút chạy. Khu du kích và vùng căn cứ du kích được mở rộng ở các huyện. Tuy nhiên địch vẫn còn chiếm giữ các vị trí kiên cố trên tuyến đường sông, đường bộ là đầu mối giao thông quan trọng và các nơi đầu não nguỵ quyền. Những đồn bốt ấy xen kẽ với vùng du kích của ta tạo thành thế “da báo” bị ta bao vây chia cắt, cô lập, địch phải dùng máy bay bắn phá mở đường, bộ binh yểm trợ mỗi khi chi viện, tiếp tế cho nhau. Tháng 12 năm 1952 giặc Pháp huy động 20 tiểu đoàn mở chiến dịch “Bơ-rơ-ta”. Tháng 8 năm 1953 chúng lại huy động 16 tiểu đoàn mở chiến dịch “Ta - răng - te”. Hai chiến dịch này nhằm phá khu du kích miền Nam (Nam Định) tìm diệt chủ lực của ta, bình định lại vùng chiếm đóng, giải vây cho đồn bốt, nhưng chúng thất bại hoàn toàn.

Xã Cộng Hoà trở thành 1 căn cứ du kích mạnh của Xuân Trường. Thời gian này đồng chí Nhiễu được điều đi làm Chánh văn phòng huyện ủy, đồng chí Hóa thay đồng chí Nhiễu làm Bí thư Đảng uỷ. Đảng bộ được thanh lọc và phát triển có trên 50 đảng viên. Lực lượng du kích và các đoàn thể được củng cố khá mạnh.
Các cơ quan lãnh đạo của huyện và các đơn vị bộ đội thường xuyên đóng ở Ngọc Liên. Địch càn nhỏ thì chống càn. Địch càn lớn thì di chuyển xuống Hội Khê Ngoại và Hải Hậu, luồn lách ra ngoài vòng vây của địch để bảo toàn lực lượng. Nhiều gia đình cơ sở Ngọc Liên không tiếc công, tiếc của nuôi cán bộ, cho cơ quan, bộ đội đóng tại nhà mình. Trong đó gia đình tôi tuy hai lần bị địch đốt phá khủng bố, vẫn là cơ sở tin cậy. Huyện uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện đóng cơ quan ở đây nhiều lần. Các cuộc địch càn quét, bắn đại bác vào nhà tôi, mẹ tôi - bà Phạm Thị ới và em tôi - Phạm Đức Nhậm đã giúp đỡ cất giấu tài liệu, tiền bạc, bảo vệ cho cơ quan tuyệt đối an toàn. Vì vậy gia đình được tặng bảng “Gia đình vẻ vang” và Huy chương kháng chiến hạng Nhất.

Từ năm 1952-1954 cơ quan Công an huyện cũng thường xuyên di chuyển đóng ở các thôn xã Cộng Hoà. Hội Khê Ngoại có mẹ Lạn; Ngọc Liên có mẹ Rong, mẹ ới, mẹ Tiêm, mẹ Ngư, mẹ Cộng, mẹ Ruy; ,Quần Lung có mẹ Mới, mẹ Kỳ, bà Khôi, bà Tuy là những gia đình cơ sở sinh tử của công an. Nhờ những gia đình cơ sở ấy giúp đỡ che chở, nhờ những cô gái giao liên thông tin bí mật nên chúng tôi thoát được nhiều lần nguy hiểm. Dựa vào tai mắt nhân dân, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ phòng gian bảo mật cho các đơn vị bộ đội tấn công vào Bùi Chu, Lục Thuỷ, Trung Linh, tiêu diệt các đồn Lạc Quần, An Cư, Thức Hoá, Đông Biên, Liêu Đông. Có đồn ta diệt hai lần, địch lại chiếm, ta lại diệt như Lạc Quần, An Cư... Nhờ phong trào phòng gian bảo mật mà bộ đội và du kích Ngọc Liên đã diệt gọn một đại đội địch lọt vào trận địa trong trận càn năm 1952. Từ đó mà có bài hát “Ngọc Liên chống càn càng hăng” nổi tiếng.

Trong trận càn “Ta răng te” tháng 8 năm 1953 chúng tôi bị bao vây ở Ngọc Liên. Nhường hầm bí mật ở nhà mẹ Ruy cho đồng chí Trần Duy Quát là Trưởng công an huyện, tôi và đồng chí Phạm Đức Nhậm - du kích Ngọc Liên tự đào hầm dưới bờ tre ở ven sông trước nhà bà Phạm Thị Phố để ở.

 Thật không may địch đặt ngay một súng trung liên, canh gác trên nóc hầm chúng tôi. Ngồi dưới hầm nước ngập đến ngực suốt 12 giờ liền đã thấm lạnh. Nghe tiếng quân địch bàn nhau “Ngày mai phải sục kỹ bờ sông này để tìm hầm Việt Minh”. Tình huống này vô cùng nguy cấp, cứ ở trong hầm nếu không bị bắt thì cũng chết rét, liều mạng thoát ra, may thì sống. Lợi dụng đêm tối, mặt sông có nhiều bèo tây, hai anh em tôi chui khỏi cửa hầm ra sông, luồn qua dưới một khóm bèo tây che khuất, trườn lên ruộng lúa sang cánh đồng Thanh Khê. Thoát được vòng vây của địch, đêm ấy, tôi chia tay người em ruột thịt, người đồng chí thân thương. Nhậm lại về bám trụ ở Ngọc Liên. Tôi luồn sang Giao Thuỷ và Hải Hậu, nhận lệnh của cấp trên chuẩn bị kế hoạch bảo vệ chiến dịch Đông - Xuân 1953 - 1954 giải phóng miền Nam Nam Định.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, cuộc kháng chiến của ta giành được thắng lợi “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”. Tình thế thất bại, buộc giặc Pháp phải rút bỏ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ để tránh bị tiêu diệt, chuẩn bị ký hiệp định Giơnevơ, công nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam.Trước khi rút chạy, giăc Pháp cho máy bay ném bom, bắn phá các hành lang rút quân.

Ngọc Liên chẳng phải là hành lang rút quân, cũng bị địch giội bom. Giặc Pháp căm ghét cái làng nổi tiếng chống càn càng hăng này đã diễn ra trên dưới 100 trận chiến đấu lớn nhỏ trong gần 5 năm chúng chiếm đóng và bị thất bại. Chúng cay cú trả đũa hèn hạ một trận cuối cùng. Ông Bùi Văn Ruy đang cày ruộng bị bom sát hại. Cụm di tích văn hóa - lịch sử vô cùng quý giá của Ngọc Liên bị bom huỷ diệt hoàn toàn. Đó là đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và đền thờ Khổng Tử (thường gọi là Đình Ngọc Liên). Nơi đây đã vang vọng tiếng trống kêu gọi khởi nghĩa tháng 8/1945. Nơi đây đã diễn ra cuộc diễu hành mít tinh giành chính quyền. Nơi đây là trung tâm chính trị văn hoá Ngọc Liên của xã Cộng Hoà trước kia và xã Xuân Hoà ngày nay. Hai cây đại thụ (cây đa và cây gạo) cao ngất đã từng là đài phát thanh và quan sát thông tin, nay không còn nữa.

Kết thúc 9 năm kháng chiến chống Pháp, Đảng bộ xã Cộng Hoà qua thử thách vừa sàng lọc, vừa phát triển có khoảng trên 50 Đảng viên. Một số đảng viên do những lý do khác nhau không hoạt động, bỏ sinh hoạt đã tự nguyện ra khỏi Đảng hoặc xóa tên trong Đảng. Đảng bộ, chính quyền, các tổ chức quần chúng được củng cố. Nhân dân vô cùng phấn khởi đã giành được hòa bình, tự do, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Năm 1955, tiến hành cải cách ruộng đất. Xã Cộng Hòa được đổi tên là Xuân Hòa và điều chỉnh địa giới. Thôn Hội Khê Ngoại cắt về xã Hải Nam. Thôn Quần Lung cắt về xã Xuân Vinh, xóm 20 Kiên Lao và xóm Nam thôn sát nhập vào thôn Ngọc Liên.

Do sai lầm nghiêm trọng, kết quả cải cách ruộng đất không được như dân mong muốn. Các đội công tác cải cách ruộng đất hoàn toàn là người xa lạ từ nơi khác đến, không dựa vào cơ sở Đảng địa phương. Họ mang tư tưởng chủ quan theo quan điểm chủ nghĩa thành phần máy móc, rập khuôn kinh nghiệm nước ngoài, áp đặt cho quần chúng, gò ép đấu tố tràn lan. Đánh đúng địa chủ thì ít, đánh vào nội bộ nhân dân thì nhiều. Một loạt cán bộ đảng viên và quần chúng tốt, cốt cán của cách mạng đã bị quy sai, bị bắt oan. Thậm chí Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch xã cũng bị quy chụp là cường hào, phản động, suýt bị tử hình. Tôi rất đau lòng khi nhớ đến người mẹ nghèo, tần tảo bao năm nuôi hai con đi đánh giặc, nhiều lần bị giặc bắt bớ, tra khảo, người mẹ ấy vẫn tin theo cách mạng, ủng hộ kháng chiến, mong đợi ngày giải phóng khỏi áp bức đói nghèo thì lại bị Đội cải cách ruộng đất lôi ra hành hạ đấu tố, quy kết là địa chủ phản động!

Sai lầm đau sót ấy, như kẻ điên dại, tay trái cầm dao chém tay phải! May thay! Trung ương Đảng đã phát hiện sai lầm, dũng cảm nhận lỗi trước nhân dân, ra lệnh phục hồi quyền lợi, danh dự cho những người bị oan sai.

Đảng bộ vừa là nạn nhân của sai lầm, vừa là nguời phải sửa sai. Không khí đoàn kết, phấn khởi, tin tưởng của cán bộ đảng viên và nhân dân sau cải cách ruộng đất không còn được như trước. Vết thương tuy đã lành nhưng còn để lại vết sẹo khá lớn.

Năm 1957, bắt đầu tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp. Từ cá thể chuyển sang làm ăn tập thể, có nhiều khó khăn phức tạp. Đảng bộ và nhân dân Xuân Hoà đã thực hiện nghiêm chỉnh. Ngọc Liên là thôn dẫn đầu với 100% số hộ nông dân vào tổ đổi công rồi tiến lên hợp tác xã. Không khí đoàn kết phấn khởi được khôi phục. Nhân dân hăng hái sản xuất, xây dựng Hợp tác xã với ý thức góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để đấu tranh cho hòa bình thống nhất đất nước.

Nhưng chính quyền tay sai Mỹ ở miền Nam trắng trợn xóa bỏ hiệp định Giơ ne vơ. Chúng không thực hiện tổng tuyển cử tự do để thống nhất hai miền. Chúng lập ra cái gọi là “Việt Nam cộng hòa”, ban hành luật 10-59, mở các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, dùng lưỡi lê, máy chém, nhà tù, thuốc độc để đàn áp khốc liệt nguyện vọng độc lập, thống nhất và tự do dân chủ của đồng bào miền Nam.

Có áp bức, có đấu tranh. Nhân dân miền Nam đã đồng khởi chống lại Mỹ, ngụy. Tổng thống Mỹ ngang ngược tuyên bố “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”. Và quân Mỹ ùn ùn kéo vào miền Nam, gây chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Xuân Hoà cũng như các xã gần bờ biển Vịnh Bắc Bộ, thường xuyên  bị tàu chiến máy bay uy hiếp ngày đêm.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kiên cuờng kéo dài hơn 20 năm. Đảng bộ và nhân dân Xuân Hòa vừa sản xuất, vừa chiến đấu, góp phần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ miền Bắc, chi viện cho miền Nam, làm nghĩa vụ giúp Lào và Campuchia. Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người.

Nếu tổng kết cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã có hàng nghìn con em của Ngọc Liên, của Cộng Hòa trước kia và Xuân Hòa ngày nay vào bộ đội, công an, du kích, đi cán bộ thoát ly, thanh niên xung phong. Hàng trăm gia đình liệt sỹ, thương binh, hàng nghìn nhà cửa bị đốt phá. Nhân dân đã đóng góp hàng vạn lượt ngày công, hàng nghìn tấn thóc nuôi quân, hàng triệu tiền công trái kháng chiến. Biết bao bà mẹ, người vợ liệt sỹ chồng con hy sinh, có người chưa tìm được hài cốt. Bao nhiêu cơ sở kháng chiến có công nuôi giấu cán bộ, bộ đội, bảo vệ an toàn cho cơ quan, kho tàng, công xưởng? Đó là những cơ sở sinh tử của cách mạng, nay ai mất, ai còn và được đền ơn đáp nghĩa ra sao?

Về thăm Xuân Hoà, vui mừng thấy những đổi mới của quê hương mà lòng cứ thấy ngỡ ngàng, bâng khuâng, nhớ cảnh, nhớ người?

Tiếc thay, cụm di tích văn hoá “Đình Ngọc Liên” năm xưa không còn nữa do bom đạn chiến tranh xoá mất. Năm tháng trôi đi, bụi thời gian phủ lấp, mong sao mai đây khôi phục lại cụm di tích có ý nghĩa ấy được chăng? Giờ đây trên nền đất ấy đã có một ngôi nhà là Trụ sở Uỷ ban nhân dân và trường học phổ thông hai tầng còn đang xây dựng.

Tôi có một ước mong, trong tương lai, nơi đây được xây dựng thành trung tâm văn hoá của xã Xuân Hoà, có cảnh quan hài hoà, có tượng đài kỉ niệm, có bia ghi nhớ cụm di tích này. Ước mong bên cạnh ủy ban và trường học có hồ nước trong lành, thơm ngát hương sen, tượng trưng cho cái tên Ngọc Liên là “Bông sen ngọc”. Bên hồ ấy có cây cao bóng mát như hai cây đại thụ năm xưa, có bến nước, rặng dừa, có sân thể thao trải thảm cỏ xanh. Ước mong nơi đây có phòng truyền thống trưng bày những hình ảnh và hiện vật giới thiệu lịch sử quê hương anh hùng, có bia ghi tên các anh hùng liệt sĩ và người có công dựng làng lập xã, ghi tên những bà mẹ chiến sĩ và những cơ sở sinh tử của hai cuộc kháng chiến giữ nước vĩ đại, ghi tên những người có công xoá đói giảm nghèo làm giàu cho làng xóm, quê hương.

Ước mong Xuân Hoà có một trung tâm văn hoá như vậy. “Uống nước nhớ nguồn” để nhân dân đến đây vui chơi lễ hội. Thanh thiếu niên, học sinh đến đây giải trí tìm hiểu lịch sử truyền thống quê hương. Đồng bào ở xa về thăm quê đến đây tưởng niệm. Trai gái kết hôn đến đây nhớ ơn các liệt sĩ.

Một ước mong nữa là giao thông và môi trường là: “Xuân Hòa 5 ngả ra vào, sông, đường sạch đẹp, ngả nào cũng thông”.

Nhưng dân xã ta còn nghèo, làm sao xây dựng được những công trình như vậy? Hãy nhớ lại những năm còn nghèo khó hơn bây giờ, sao ta đã xây dựng được hệ thống giao thông thủy lợi, trường học, trạm xá, lưới điện về làng và cải tạo được các cụm dân cư khang trang như vậy? Nay, trung tâm văn hóa nếu xây dựng chắc không tốn kém to lớn như những công trình ấy, sao không làm được?

Thời ông cha ta, mỗi đôi trai gái cưới nhau đều nộp cheo để góp phần xây dựng đình làng. Ngày nay nếu mỗi đám cưới giảm bớt 10% lãng phí để góp phần xây dựng cho quê hương, có được không? Nên đưa ra Đảng nghị, dân bàn, sớm có dự án quy hoạch tổng thế, có kế hoạch từng bước, biết khơi nguồn tại chỗ, biết vận động đồng bào, đồng chí các nơi trong và ngoài nước có tâm huyết giúp đỡ quê hương thì có thể làm được.

 Ai cũng mong muốn quê hương mình đổi mới để tiến lên!

Đổi mới đúng đắn là biết phát huy truyền thống tốt đẹp, bảo tồn thuần phong mỹ tục của quê hương. Mong sao mọi nhà chồng hòa vợ thuận, con hiếu cháu hiền, sản sinh nhiều trai thanh gái lịch, lắm gái giỏi, trai tài để làm vẻ vang cho gia đình, quê hương.

Đừng nhân danh đổi mới mà xuyên tạc lịch sử, xóa bỏ truyền thống, bôi nhọ cha ông, làm cho đạo đức suy đồi, xã hội rối loạn, quốc gia suy vong.

Nhìn lại giai đoạn lịch sử bi thương và oanh liệt của quê hương, nhớ lại quá trình 47 năm xây dựng Đảng bộ Xuân Hòa (1946-1993), tôi suy ngẫm và cảm nhận thêm về mối quan hệ Đảng với dân.

Trước hết có dân mới có Đảng. Dân là cội nguồn sinh ra Đảng, để Đảng phục vụ dân, bảo vệ dân. Ông cha ta đã nói “Lấy dân làm gốc” cũng có ý nghĩa như vậy.
Nhờ biết phục vụ dân, bảo vệ dân mà Đảng bộ xã Xuân Hòa qua bao gian nan, thử thách vẫn tồn tại và phát triển. “Đảng là trí tuệ, là đạo đức, là văn minh” như lời Bác Hồ dạy.

Trước kia dân theo Đảng để chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Đảng ta đã làm được. Tuy có lúc sai lầm, Đảng đã sửa ngay nên Đảng tồn tại như ngôi sao sáng trong lòng dân.

Ngày nay, Dân theo Đảng để xóa đói, đuổi nghèo, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nếu Đảng ta không làm được như vậy thì ngôi sao sáng kia khó tồn tại, nếu không nói là sẽ tắt trong lòng dân. Những người đảng viên có tâm huyết sẽ suy nghĩ và trăn trở gì? Vì mỗi đảng viên làm mất lòng tin của dân đối với mình cũng tức là làm xói mòn lòng tin của dân đối với Đảng. Mỗi Đảng viên được dân tin, dân yêu là tăng uy tín của Đảng.

Nhân dân là cội nguồn của Đảng, quê hương là cội nguồn của mỗi người.

Thăm quê nhớ cảnh, nhớ người! Xúc động tự đáy lòng, đã khắc ghi trong tôi những kỷ niệm về quê hương như tôi đã viết trên đây.
Hồi tưởng

Xuân Quý Dậu 1993
 
Phạm Minh Liêm

Tin cùng chuyên mục

Họ và tên
Năm Sinh
Di động
Xóm/Đội:
Nơi ở hiện nay
Tỉnh thành:
Chức vụ
Đơn vị công tác
Đăng ký thành công

 

Các nhà tài trợ